MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Như chúng ta đã biết đói nghèo là lực cản của sự phát triển kinh tế đất nước, do vậy muốn phát triển kinh tế thì không còn cách nào khác ngoài xóa đói giảm nghèo. Đói nghèo là tình trạng thiếu cái ăn, cái mặc và các nhu cầu khác của mỗi con người dẫn đến tình trạng yếu kém về thể lực, trí lực làm giảm khả năng lao động, của cải làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Vì vậy, thực hiện giảm nghèo là 1 nhiệm vụ kinh tế chính trị trọng tâm của tất cả các quốc gia nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hướng tới việc thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Phú Đô là một xã nghèo thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, số hộ nghèo trong xã còn khá cao chiếm 23,61% (thống kê năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Phú Đô).
Phú Đô là một xã nằm ở phía Đông của huyện Phú Lương cách trung tâm huyện 20 km.125 nhân khẩu trong đó gồm có 361 hộ nghèo (thống kê của UBND xã Phú Đô năm 2017) Trình độ dân trí của xã không đồng đều do vậy nhận thức và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm, còn chông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình. Thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp chưa quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Là xã có tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên công tác giảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải. Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của xã Phú Đô như vậy, huyện Phú Lương và xã Phú Đô đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều 2 kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo.
Đây là vấn đề rất bức thiết đối với xã Phú Đô cần sớm được nghiên cứu giải quyết, xuất phát từ thực tiễn đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng nghèo tại xã Phú Đô, từ đó đưa ra các giải pháp giảm nghèo cho người dân trong thời gian tới 1.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng nghèo của người dân tại địa bàn nghiên cứu. - Tìm hiểu và đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại địa phương. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại địa phương - Đề xuất giải pháp giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. - Có được cái nhìn tổng thể về tình trạng nghèo đói của cả nước nói chung và riêng xã Phú Đô trên cơ sở đánh giá các chỉ số nghèo đa chiều.
3 - Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng nghèo của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Phú Đô. Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho địa phương có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng nghèo của xã. Qua đó, phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm giúp địa phương giảm nghèo bền vững.
- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng đến nghèo của các hộ trong xã. Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân. Góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, giáo dục, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân trên địa bàn xã. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 2. Một số khái niệm Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập.
Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia. Hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế xã hội ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ASCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về đói nghèo. Theo hội nghị “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của các địa phương và những phong tục ấy đã được xã hội thừa nhận”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về đói nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua số sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng 5 và theo những đặc trưng khác của nghèo đói.
Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[3]. ) Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. ) Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
Chuẩn mực xác định nghèo đói 2.1Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình. + Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.
+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo. Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: + Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0. + Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày. + Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày. + Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.[2] Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra.