Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công tác dồn điền đổi thửa (DĐĐT) đất sản xuất nông nghiệp là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò nền tảng trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tại xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, sau gần 20 năm thực hiện việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho người dân (từ năm 1995), thực trạng ruộng đất canh tác đã bộc lộ sự manh mún nghiêm trọng. Diện tích đất canh tác của mỗi hộ gia đình bị phân tán thành nhiều mảnh nhỏ lẻ nằm rải rác trên nhiều xứ đồng, hệ thống bờ bao chiếm dụng diện tích lớn, đường giao thông nội đồng và mương máng tưới tiêu chưa được quy hoạch đồng bộ. Tình trạng này cản trở việc đưa cơ giới hóa, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, làm gia tăng chi phí lao động và hạn chế năng suất cây trồng. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của địa phương và gắn liền với mục tiêu đào tạo chuẩn đầu ra của ngành Kỹ sư Phát triển nông thôn, tác giả Đào Thị Khang đã thực hiện đề tài nhằm phân tích quá trình triển khai và làm rõ vai trò, chức trách của đội ngũ cán bộ cấp xã trong công tác này.

Khóa luận xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Áp dụng các kiến thức lý thuyết chuyên ngành đã học vào thực tiễn công tác cơ sở, nắm bắt vai trò của cán bộ ủy ban trong công tác DĐĐT; từ đó học hỏi kinh nghiệm, rút ra các bài học thực tiễn nhằm nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc ngoài thực tế.
  • Các mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
    2. Tìm hiểu quá trình triển khai và thực hiện đề án dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Xuân Dương.
    3. Nêu ra được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện đề án.
    4. Nắm được những nội dung, một số công việc của cán bộ công chức cấp xã thực hiện trong công tác DĐĐT.
    5. Rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình thực hiện và thực tập tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và các hoạt động thực thi công việc của đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân (UBND) xã Xuân Dương, Ban chỉ đạo DĐĐT cấp xã và các tiểu ban thôn trong quá trình thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn:

  • Về không gian: Địa bàn xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; tập trung khảo sát tại các thôn có đất sản xuất nông nghiệp gồm thôn Tân Lập, Xuân Thịnh, Vụ Bản 1, Vụ Bản 2 và địa bàn các thôn Thống Nhất (Thống Nhất 1, 2, 3).
  • Về thời gian: Đề tài tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến hết tháng 05/2017 (tháng 01/2017 xây dựng đề cương; từ tháng 02/2017 đến tháng 05/2017 thực tập, thu thập số liệu tại địa phương và hoàn thiện khóa luận).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Dồn điền đổi thửa được xác định là quá trình chuyển đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ lẻ, phân tán thành các ô thửa lớn liền vùng, liền khoảnh giữa các hộ nông dân nhằm thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, tạo tiền đề chuyển đổi từ nền nông nghiệp phân tán sang sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn dưới sự lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cơ sở. Cùng với đó là việc xem xét vị trí, chức năng của chính quyền cấp xã với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước với nhân dân trong việc tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
  • Cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm: Nghiên cứu viện dẫn các quy định của Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 14/07/2014); Luật Tổ chức chính quyền địa phương (quy định cơ cấu, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch UBND cấp xã); các Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa và Huyện ủy, UBND huyện Thường Xuân về dồn điền đổi thửa; Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 24/5/2012 của Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân về nếp sống văn minh; Nghị quyết 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững.
  • Cơ sở thực tiễn tham chiếu: Đề tài phân tích bài học kinh nghiệm từ Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Ngãi về chính sách hỗ trợ DĐĐT giai đoạn 2013-2020 (triển khai tại 7 xã thuộc 3 huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức); kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương theo Quyết định số 392/2002/QĐ-UB và Kế hoạch số 1704/KH-UBND về DĐĐT gắn với chỉnh trang đồng ruộng (điển hình tại huyện Ninh Giang); cùng những đánh giá thực tiễn về công tác chỉ đạo DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006-2013.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các số liệu thống kê, văn bản, báo cáo chính thức do UBND xã Xuân Dương ban hành và công bố, bao gồm: Báo cáo nhiệm vụ mục tiêu kinh tế - xã hội, Đề án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020, các đề án DĐĐT của các thôn, hồ sơ địa chính, số liệu báo cáo tiến độ DĐĐT và tài liệu liên quan từ báo chí, internet.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (sử dụng các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia - PRA):
    • Phỏng vấn trực tiếp: Thực hiện đối với cán bộ chủ chốt của xã, công chức chuyên môn (Địa chính, Văn phòng - Thống kê, Văn hóa), cán bộ tiểu ban thôn và các hộ nông dân nhằm tìm hiểu quá trình điều hành, tâm tư nguyện vọng, những khó khăn, vướng mắc thực tế.
    • Quan sát trực tiếp: Quan sát có hệ thống các buổi họp dân, các hội nghị triển khai đề án, quy trình tổ chức bốc thăm chia ruộng và các đợt đo đạc, phân ranh cắm mốc giao đất ngoài thực địa để đối chiếu, kiểm tra chéo thông tin.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Phần này thiết lập cơ sở khoa học và định hướng ứng dụng của khóa luận. Tác giả chỉ ra tính tất yếu khách quan của công tác DĐĐT trong việc hiện đại hóa hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng, hình thành vùng sản xuất chuyên canh và giải quyết tình trạng đất đai manh mún. Đồng thời, phần mở đầu liên hệ trực tiếp giữa yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý nông nghiệp ở cơ sở với chuẩn đầu ra của ngành Kỹ sư Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (kỹ năng lập kế hoạch, phân tích kinh tế - xã hội, làm việc với cộng đồng nông dân và thẩm định dự án). Tác giả xác định rõ 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, nội dung thực hiện, các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, ý nghĩa học tập và thực tiễn của đề tài trong khung thời gian 5 tháng (01/2017 - 05/2017).

Phần II: Tổng quan

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hoạt động DĐĐT:

  • Lý luận về vai trò DĐĐT: Giúp khắc phục tình trạng ruộng đất nhỏ lẻ, giảm diện tích bờ bao lãng phí, tiết kiệm công lao động và chi phí sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa máy móc vào đồng ruộng và cải thiện công tác quản lý hồ sơ địa chính.
  • Khung quy định về tổ chức bộ máy và cán bộ cơ sở: Làm rõ thẩm quyền, nhiệm vụ của HĐND, UBND xã và Chủ tịch UBND xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Quy định tiêu chuẩn tổ chức Ban chỉ đạo (BCĐ) DĐĐT cấp xã (gồm Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch làm Phó ban, Cán bộ Địa chính làm Ủy viên thường trực, các ban ngành làm ủy viên; việc trưng tập từ 5-7 cán bộ có trình độ từ THPT trở lên) và việc thành lập các Tiểu ban thực hiện tại các thôn (do Bí thư chi bộ hoặc Trưởng thôn làm Trưởng tiểu ban).
  • Tổng kết thực tiễn các địa phương: Phân tích kinh nghiệm xử lý nguồn vốn hỗ trợ, huy động doanh nghiệp và xã hội hóa đầu tư tại Quảng Ngãi; kinh nghiệm giảm số thửa bình quân từ 5-7 thửa xuống còn 1-2 thửa/hộ với quy mô trên 800 m²/thửa tại Hải Dương; đánh giá 4 ưu điểm, 4 hạn chế và 5 bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo DĐĐT của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006-2013.

Phần III: Kết quả thực tập

Chương này phản ánh toàn diện kết quả khảo sát thực tế và các công việc chuyên môn sinh viên đã tham gia tại xã Xuân Dương:

  • Khái quát địa bàn nghiên cứu: Xã Xuân Dương nằm ở vùng thấp huyện Thường Xuân, có Quốc lộ 47 chạy qua dài 2,5 km, được bao bọc bởi 5 km sông Chu và sông Âm. Tổng diện tích tự nhiên là 739,8 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 447,8 ha (đất lúa 122 ha, cây hàng năm 253,29 ha), đất phi nông nghiệp 247,58 ha, đất chưa sử dụng 26,13 ha. Địa phương có 8 thôn, cơ cấu dân tộc gồm người Kinh (99,1%), người Thái (0,54%) và người Mường (0,36%). Năm 2016, xã được công nhận đạt chuẩn NTM, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,33%, tỷ lệ cận nghèo là 13,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 22,19 triệu đồng/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt: Thương mại - Dịch vụ chiếm 45,85%, Nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 28,03%, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 26,12%.
  • Thành tựu DĐĐT tại địa phương: Giảm số thửa từ 10 - 11 thửa/hộ xuống còn 1 - 2 thửa/hộ; 100% diện tích ruộng có đường giao thông nội đồng dẫn đến tận nơi; hệ thống kênh tưới tự chảy cấp 1 bê tông hóa 3 km phục vụ 126 ha lúa; hình thành vùng chuyên canh năng suất ổn định, giải quyết tình trạng ngập úng.
  • Đánh giá thuận lợi và khó khăn: Thuận lợi từ cơ sở pháp lý của Luật Đất đai 2013, sự đồng thuận của nhân dân các thôn làm điểm (Tân Lập, Xuân Thịnh). Khó khăn bắt nguồn từ việc hồ sơ địa chính qua 20 năm (từ 1995) bị thất lạc, hư hỏng; đồng đất lồi lõm, chất lượng không đồng đều; thiếu các thông tư hướng dẫn kỹ thuật chi tiết của cấp trên; đặc biệt là tâm lý ngại va chạm của cán bộ và sự phản đối kịch liệt từ người dân tại 3 thôn Thống Nhất (Thống Nhất 1, 2, 3).
  • Mô tả phân công chức trách và 4 nội dung công việc cụ thể:
    1. Công tác tuyên truyền, vận động: Tổ chức tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh xã, họp chi bộ, họp thôn, nhấn mạnh nguyên tắc đảng viên đi trước và công khai minh bạch lợi ích lâu dài.
    2. Triển khai các hội nghị quán triệt và bàn bạc: Tổ chức chuỗi hội nghị từ Đảng ủy, HĐND, UBND, cán bộ chủ chốt xã đến hội nghị toàn thể nhân dân tại các thôn để thảo luận phương án quy hoạch mương máng, giao thông theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
    3. Tổ chức bốc thăm chia đất cho thôn Vụ Bản 1 và Vụ Bản 2: Rà soát lại quỹ đất giao năm 1995, trừ diện tích đất công ích, đất làm đường, đất mương nội đồng, đất của các hộ chuyển đi hoặc đã qua đời; xác định phương thức bốc thăm công bằng và lập biên bản có đầy đủ chữ ký xác nhận.
    4. Tổ chức phân loại và giao đất ngoài thực địa: Lập danh mục phân loại đất (đồng suội, đồng un, đồng ao, bãi bờ lở) để ưu tiên cân đối cho các hộ nhận đất loại 2; phối hợp giữa BCĐ xã, Tiểu ban thôn, công an xã và các chủ hộ tiến hành đo đạc thực tế, cắm cọc mốc giới làm cơ sở cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu định lượng và chỉ tiêu quản lý đất đai tại xã Xuân Dương thông qua các bảng thống kê:

Loại đất Mã đất Diện tích (ha) Cơ cấu / Ghi chú
Tổng diện tích tự nhiên 739,80 100% diện tích toàn xã
Đất nông nghiệp NNP 447,80 60,53% diện tích tự nhiên
- Đất trồng lúa nước LUA 122,00 Phục vụ tưới tiêu qua kênh tự chảy
- Đất trồng cây hàng năm còn lại HNK 253,29 Phân bố tại các xứ đồng
- Đất trồng cây lâu năm CLN 31,99 Vùng đồi, đất vườn
- Đất rừng sản xuất RSX 34,70 Giao hộ gia đình quản lý
- Đất nuôi trồng thủy sản NTS 5,82 Tận dụng lưu vực sông Âm, sông Chu
- Đất lâm nghiệp DLN 18,29 Rừng và đất đồi
Đất phi nông nghiệp PNN 247,58 33,47% diện tích tự nhiên
- Đất ở nông thôn ONT 148,99 Đất khu dân cư
- Đất phát triển hạ tầng DHT 59,14 Đường giao thông, công trình công cộng
- Đất sông suối SON 28,33 Sông Chu và sông Âm bao quanh
- Đất nghĩa trang NTD 7,17 Khu nghĩa trang nhân dân
- Đất quốc phòng CQP 2,23 Khu vực quân sự xã
- Các loại đất phi nông nghiệp khác 1,72 TSC (0,34), TON/TIN (0,54), MNC (0,80), SX-KD (0,04)
Đất chưa sử dụng 26,13 3,53% diện tích tự nhiên

Bên cạnh hiện trạng đất đai, tác giả ghi nhận kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã giai đoạn 2014-2016:

Lĩnh vực kinh tế Tỷ trọng năm 2014 (%) Tỷ trọng năm 2016 (%) Xu hướng chuyển dịch
Nông lâm nghiệp và thủy sản 41,48 28,03 Giảm 13,45%
Công nghiệp - Xây dựng 37,93 26,12 Giảm 11,81%
Thương mại - Dịch vụ 20,59 45,85 Tăng 25,26%

Kết quả thực hiện DĐĐT phản ánh qua số liệu cụ thể:

  • Hiệu quả giảm manh mún: Số thửa ruộng của các hộ nông dân tại các thôn đã hoàn thành giảm từ 10 - 11 thửa xuống chỉ còn 1 - 2 thửa/hộ.
  • Hạ tầng sản xuất: 100% các thửa ruộng mới đều tiếp giáp đường giao thông nội đồng; hạ tầng đường giao thông nông thôn toàn xã được bê tông hóa 20 km; hệ thống thủy lợi kênh cấp 1 bê tông hóa 3 km đảm bảo cấp nước chủ động cho 126 ha lúa. Đảm bảo an ninh lương thực ở mức 538 kg/người/năm.
  • Phân loại đất thực tế: Tại thôn Tân Lập, quỹ đất được bóc tách chi tiết thành các phân hạng: Đất đồng suội (180.692 m²), Đất đồng un (37.949 m²), Đất đồng ao (38.550 m²), Đất bãi bờ lở (12.005 m²) nhằm tạo căn cứ tính hệ số chuyển đổi, ưu tiên cho các hộ nhận đất loại 2 để đảm bảo sự công bằng.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất:

  • Tăng cường tuyên truyền bền bỉ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở trong mọi khâu đo đạc, bốc thăm.
  • Tập trung củng cố, số hóa và phục hồi hệ thống hồ sơ địa chính, xử lý triệt để các tồn tại về số liệu đất đai từ năm 1995.
  • Đề nghị cấp trên ban hành các quy định, văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế, định mức và quy trình DĐĐT thống nhất để cấp xã có cơ sở pháp lý vững chắc khi thực thi.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Khóa luận làm sáng tỏ vai trò, trách nhiệm thực tế của từng vị trí công chức cơ sở (Chủ tịch UBND, Cán bộ Địa chính, Cán bộ Văn phòng - Thống kê, Cán bộ Văn hóa) trong một chương trình can thiệp phức tạp tại nông thôn.
  • Cung cấp tài liệu mô tả quy trình thực tế từ khâu chuẩn bị, lập đề án, họp dân, bốc thăm đến bàn giao mốc giới ngoài thực địa tại một xã miền núi đang chuyển mình xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và thực tế địa bàn:

  • Tiến độ DĐĐT tại xã Xuân Dương tại thời điểm kết thúc nghiên cứu (tháng 05/2017) chưa đạt mức bao phủ toàn xã: Địa phương mới hoàn thành tại 2 thôn (Tân Lập, Xuân Thịnh), đang triển khai chia đất thực địa tại 2 thôn (Vụ Bản 1, Vụ Bản 2), trong khi 3 thôn Thống Nhất (Thống Nhất 1, 2, 3) vẫn chưa thể tiến hành thống kê diện tích do gặp phải sự phản đối của người dân.
  • Hồ sơ địa chính lưu trữ từ năm 1995 bị hư hỏng, thất lạc qua nhiều thời kỳ chuyển giao cán bộ, dẫn đến việc tính toán, quy chủ diện tích của các hộ còn phát sinh nhiều sai sót, đòi hỏi phải đo đạc, kiểm tra đối chiếu thực địa lặp lại nhiều lần.
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào quá trình tổ chức triển khai hành chính và nghiệp vụ phân chia đất của cán bộ cấp xã, chưa khảo sát sâu về sự thay đổi chi phí sản xuất, mức độ đầu tư cơ giới hóa và biến động thu nhập thực tế của từng hộ nông dân sau khi nhận ruộng mới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Tiếp tục theo dõi quá trình giải quyết tranh chấp, vận động nhân dân và khảo sát tiến độ DĐĐT tại 3 thôn Thống Nhất 1, 2, 3.
  • Nghiên cứu quy trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý, cấp đổi GCNQSDĐ cho các hộ sau DĐĐT và đánh giá hiệu quả kinh tế nông hộ sau 3 đến 5 năm canh tác trên các thửa đất mới dồn đổi.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý đất đai: Tài liệu cung cấp bức tranh chân thực về các bước tổ chức một đề án phát triển tại cơ sở, phương pháp áp dụng các công cụ PRA trong phỏng vấn và quan sát cộng đồng, cũng như sự kết nối giữa chuẩn đầu ra đại học với yêu cầu công việc thực tế của một kỹ sư PTNT tại chính quyền cơ sở.
  • Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và ban chỉ đạo DĐĐT cấp cơ sở: Có thể tham khảo bảng mô tả phân công nhiệm vụ chi tiết của các chức danh công chức xã (Bảng 3.3 trong khóa luận), phương pháp phân hạng đất đai truyền thống (đồng suội, đồng un, đồng ao, bãi bờ lở) để định giá hoán đổi, cùng cách thức tổ chức hội nghị bốc thăm và lập biên bản bàn giao đất ngoài thực địa.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao diện tích đất nông nghiệp đo đạc thực tế tại các thôn của xã Xuân Dương thời điểm năm 2016 lại có xu hướng tăng lên so với số liệu lưu trữ năm 1995?
    Theo báo cáo của tác giả, sự gia tăng diện tích này do ba nguyên nhân chính: Thứ nhất, phương pháp đo đạc năm 1995 chủ yếu dựa trên ước lượng thủ công, thiếu phương tiện kỹ thuật chuẩn xác; thứ hai, diện tích đất bãi bồi được mở rộng hàng năm nhờ sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Chu; thứ ba, người dân địa phương đã chủ động khai hoang, phục hóa và cải tạo các diện tích đất cằn cỗi, đất xấu trước đây.

  2. Cơ cấu Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa cấp xã tại xã Xuân Dương được phân công nhiệm vụ cụ thể như thế nào?
    Ban chỉ đạo do Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phúc Khiêm làm Trưởng ban (hoặc Phó Chủ tịch Đỗ Văn Đông phụ trách tùy nội dung) điều hành chung và chịu trách nhiệm trực tiếp trước người dân; Cán bộ Văn phòng - Thống kê Lê Xuân Long phụ trách rà soát số liệu năm 1995, thống kê diện tích đất thu hồi từ các hộ chuyển đi hoặc đã mất, và tính toán nhu cầu đất công cộng; hai Cán bộ Địa chính Lê Thị Huyền Thương và Lê Đức Thọ chịu trách nhiệm thiết kế quỹ đất giao thông mương máng, phân loại đất và trực tiếp bàn giao đất thực địa; Cán bộ Văn hóa Lê Thị Hương phụ trách tuyên truyền, phổ biến chủ trương.

  3. Kết quả dồn điền đổi thửa đã làm giảm số thửa đất của mỗi hộ gia đình tại các thôn làm điểm của xã Xuân Dương ra sao?
    Trước khi thực hiện đề án, mỗi hộ nông dân trên địa bàn canh tác bình quân từ 10 đến 11 thửa đất nhỏ lẻ, phân tán. Sau khi hoàn thành DĐĐT (tại thôn Tân Lập và Xuân Thịnh), số thửa bình quân của mỗi hộ đã giảm xuống rõ rệt, chỉ còn lại từ 1 đến 2 thửa/hộ.

  4. Vì sao tại thời điểm khóa luận hoàn thành, ba thôn Thống Nhất (Thống Nhất 1, 2, 3) vẫn chưa có số liệu diện tích đất thống kê hiện trạng?
    Ba thôn Thống Nhất chưa có số liệu thống kê do phần lớn người dân tại đây chưa đồng thuận, có thái độ phản đối kịch liệt chủ trương DĐĐT của xã và gây khó khăn cho quá trình làm việc của cán bộ chuyên môn; nhiều cán bộ, đảng viên tại địa bàn thôn rơi vào tình thế khó xử khiến công tác đo đạc, kiểm kê chưa thể triển khai theo đúng kế hoạch.

  5. Thành phần Tiểu ban dồn điền đổi thửa ở cấp thôn được cấu thành như thế nào để đảm bảo tính khách quan?
    Tiểu ban thôn được thành lập theo quyết định của Chủ tịch UBND xã, bao gồm Bí thư chi bộ thôn làm Trưởng ban chỉ đạo giám sát; Trưởng thôn làm Phó ban điều hành; các thành viên gồm đại diện các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh...) và bắt buộc có sự tham gia của ít nhất 2 đại diện hộ gia đình trong thôn nhằm đảm bảo tính dân chủ, minh bạch.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đào Thị Khang đã phản ánh toàn diện bức tranh thực tế về công tác dồn điền đổi thửa tại xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh địa phương hoàn thành xây dựng nông thôn mới năm 2016. Nghiên cứu đã làm rõ chức năng, thẩm quyền và sự phối hợp giữa các chức danh cán bộ ủy ban cấp xã và tiểu ban thôn trong việc xử lý các vấn đề kỹ thuật đo đạc, giải quyết xung đột lợi ích và quản lý đất đai. Dù còn đối mặt với nhiều khó khăn về sai lệch hồ sơ lưu trữ và sự phản đối cục bộ tại một số thôn, kết quả dồn đổi giảm số thửa từ 10-11 xuống 1-2 thửa/hộ tại các thôn điểm đã khẳng định giá trị thực tiễn của đề tài đối với công tác phát triển nông thôn ở cấp cơ sở.