Phần mở đầu; Phần nội dung: 2 chƣơng, (4 tiết); Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục. Luan van 12 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM 1. Dồn điền đổi thửa và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa 1. Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Trong kinh tế học chính trị mác-xít, C.I Lê-nin nghiên cứu các quan hệ kinh tế xã hội có liên quan dến vấn đề đất đai thông qua phạm trù địa tô tƣ bản chủ nghĩa.
Xét về mặt kinh tế xã hội, phạm trù “địa tô” chỉ rõ mối quan hệ ba giai cấp: địa chủ - tƣ bản kinh doanh nông nghiệp – công nhân làm thuê trong nông nghiệp; tƣ bản kinh doanh nông nghiệp và chủ ruộng chia phần giá trị thặng dƣ do công nhân làm thuê trong nông nghiệp tạo ra. Xét về mặt kinh tế kỹ thuật, lý luận địa tô trong kinh tế học mác – xít chỉ rõ những điều kiện hình thành các loại địa tô, nhất là địa tô chênh lệch.Mác, địa tô chênh lệch 1 gắn liền với những điều kiện thuận lợi tự nhiên (độ phì nhiêu của đất, gần thị trƣờng tiêu thụ nông phẩm); địa tô chênh lệch 2 gắn với điều kiện nhân tạo (đầu tƣ thâm canh do tiến bộ kỹ thuật). Lý luận địa tô trong kinh tế học có thể đƣợc xem là là cơ sở để các nhà nƣớc (kể cả nhà nƣớc tƣ sản) ban hành các chính sách về đất đai, đặc biệt là tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hoá lớn hiện đại. Vận dụng vào Việt Nam, những năm trƣớc đổi mới, sự phát triển nông nghiệp (nông nghiệp theo nghĩa hẹp) của cả nƣớc nói chung, các tỉnh phía Bắc nói riêng đƣợc tiến hành theo mô hình các hợp tác xã.
Sau Chỉ thị 100- CT/TW: Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và ngƣời lao động” trong các hợp tác xã nông nghiệp, ngày 13 tháng 1 năm 1981(thƣờng gọi là khoán 100) đã đem lại những sinh khí mới cho nền nông nghiệp nƣớc ta lúc đó. Nhƣng sau một thời gian thực hiện, “khoán 100” Luan van 13 bộc lộ một số vấn đề bất cập do chúng ta bắt đầu thực hiện đổi mới toàn diện đất nƣớc. Để tiếp tục thúc đẩy nông nghiệp phát triển, ngày 28 tháng 3 năm 1988, Bộ chính trị Ban chấp hành trung ƣơng (khoá VI) đã ban hành Nghị quyết 10- NQ/TW: “Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp”(thƣờng gọi là khoán 10). Đến năm 1993, Quốc hội nƣớc ta thông Luật đấi đai, trong đó khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” [Điều 1, Chƣơng 1] và xác định: “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi , chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử đất.
Các quyền nói trên chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật” [Điểm 2, Điều 3, Chƣơng 1]. Nhƣ vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc nói chung, nông nghiệp và nông thôn nói riêng, Đảng và Nhà nƣớc ta từng bƣớc hoàn thiện các văn bản Luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để ngƣời dân phát triển sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống, làm giàu cho mình và cho đất nƣớc. Trên cơ sở Luật đất đai và các văn bản hƣớng dẫn thực hiện, các địa phƣơng (tỉnh, huyện, xã) có chủ trƣơng và ngƣời nông dân tiến hành chuyển nhƣợng, chuyển đổi quyền sử dụng đất nhằm thực hiện tập trung ruộng đất, chuyển hƣớng sang sản xuất hàng hoá lớn hiện đại. Đối với nƣớc ta trƣớc đây cũng nhƣ hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp và trong sự tồn tại của xã hội, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá , xã hội, an ninh và quốc phòng” [Lời nói đầu - Luật đất đai 1993].
Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, tƣ liệu sản xuất đặc biệt này có đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội nhƣ mong muốn hay không, lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác để tăng năng suất lao động; Luan van 14 gia tăng số, chất lƣợng nông phẩm trên một đơn vị diện tích canh tác giữ vai trò quyết định. Ở các nƣớc phát triển, ngƣời ta đã tính toán đƣợc rằng, trong giá trị gia tăng của những sản phẩm nông nghiệp, hàm lƣợng chất xám (thông qua trình độ cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, sinh học hoá. Để ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, ngƣời ta phải tiến hành canh tác trên những cánh đồng có diện tích lớn hàng trăm, thậm chí hàng ngàn héc-ta theo hƣớng thâm canh và chuyên canh. Hiện tại, do những yếu tố của lịch sử - xã hội chi phối, nhìn chung đất nông nghiệp chƣa đƣợc đầu tƣ khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả cao, còn lãng phí nhiều.
Mặt khác, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết.hay nói cách khác, sản xuất nông nghiệp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, ngƣời dân có lúc, có nơi không thiết tha với ruộng đất. Khắc phục tình trạng trên, việc giao đất ổn định, lâu dài cho ngƣời nông dân là một giải pháp cơ bản, tạo động lực để ngƣời dân yên tâm đầu tƣ các nguồn lực cho phát triển sản xuất. Chủ trƣơng nhà nƣớc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp và cho phép ngƣời sử dụng đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế… đã qui định trong Luật Đất đai năm 1993 và cụ thể hóa trong Nghị định 64/CP ngày 7 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ đã thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng và Nhà nƣớc ta với phƣơng trâm công bằng xã hội bằng cách chia đều ruộng đất tính trên một khẩu cho các gia đình. Nhƣ vậy mỗi hộ nông dân đều có phần trên những mảnh ruộng xấu, ruộng tốt, ruộng xa cũng nhƣ ruộng gần.
Hiệu quả của chính sách này đã có tác dụng lớn trong việc khai thác nguồn lực (lao động sẵn có ở nông thôn), khuyến khích nông dân sản xuất, tăng cƣờng an ninh lƣơng thực đặc biệt đối những vùng có bình quân ruộng đất trên đầu ngƣời thấp nhƣ vùng Đồng Bằng Sông Hồng; những chính sách này đã đem Luan van 15 lại những thành quả to lớn về kinh tế xã hội cho đất nƣớc. Từ một nƣớc nhập khẩu lƣơng thực là chủ yếu, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã vƣơn lên và trở thành nƣớc xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản nhƣ gạo, cà phê, chè, tiêu, thuỷ sản. Thu nhập và đời sống của ngƣời dân luôn đƣợc cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm đáng kể, đặc biệt ở nông thôn.
Tuy nhiên, sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân nhƣ trên cũng thể hiện những hạn chế, nó gây nên tình trạng manh mún ruộng đất ở nông thôn, tạo nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lí và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai và gây nên những khó khăn trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đó là ruộng đất manh mún, phân tán, bờ vùng, bờ thửa nhiều đã tác động rất lớn đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Từ thực trạng chung về quản lý, sử dụng đất nông nghiêp thời gian qua và yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá lớn hiện đại đòi hỏi các địa phƣơng, các chủ thể sản xuất kinh doanh phải xoá bỏ tình trạng cát cứ, mở rộng diện tích đất canh tác thông qua tập trung ruộng đất. Với thực trạng quản lý, sử dụng ruộng đất ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nhƣ hiện nay, việc tập trung ruộng đất có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều cách, trong đó việc “dồn điền, đổi thửa” đang đƣợc ngƣời dân ở nhiều địa phƣơng thực hiện vì nó phù hợp với nhu cầu của chính ngƣời sử dụng đất và yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá lớn. Để góp phần hoàn thiện hơn khái niệm dồn điền đổi thửa dƣới góc độ kinh tế học, tác giả luận văn cho rằng, trƣớc hết cần đề cập một cách khái lƣợc phạm trù đất nông nghiệ và, sản xuất nông nghiệp Theo Từ điển bách khoa nông nghiệp (năm 1991) “Đất là vật hình thành tự nhiên, gồm những tầng lớp liên quan nhau theo phát triển sinh học, đƣợc tạo thành do kết quả biến đổi các lớp mặt của thạch quyển vỏ Trái đất, dƣới tác động của nƣớc, không khí, sinh vật” Luan van 16 Luật đất đai năm 1993 đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế đƣợc của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.
Cũng theo Từ điển bách khoa nông nghiệp (năm 1991) “Nông nghiệp: tập hợp các mặt hoạt động của con ngƣời trong một môi trƣờng khí hậu và sinh học cụ thể, trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, nhằm tạo ra những sản phẩm thực vật và động vật cần cho đời sống, đặc biệt là lƣơng thực, thực phẩm” Cũng nhƣ công nghiệp, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong điều kiện trƣớc mắt cũng nhƣ trong quá trình công nghiệp hoá đất nƣớc. Ngành nông nghiệp có 2 nhiệm vụ lớn là trực tiếp đảm bảo an ninh lƣơng thực quốc gia và đảm bảo tối đa nguyên liệu cho công nghiệp, tăng khối lƣợng nông sản cho xuất khẩu. Ngành nông nghiệp hoạt động chủ yếu trên địa bàn nông thôn. Nông nghiệp theo nghĩa rộng là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình sinh học bao gồm cả nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi) lâm nghiệp (trồng và khai thác bảo vệ tài nguyên rừng), ngƣ nghiệp (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản), diêm nghiệp (làm muối).