Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số các khái niệm 1.1 Tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.
Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ (Hà Quang Đào, 2018). Có định nghĩa cho rằng tín dụng là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ. Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định; Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay.
Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin. Đứng trên quan điểm là khoản tiết kiệm của người dân vào các tổ chức tín dụng thì “Tín dụng là tổng số tiền người gửi vào tổ chức tín dụng, đối với họ quyền kiểm soát số tiền đã bị chuyển đổi” (Dương Quyết Thắng, 2016). Tín dụng ngân hàng Có rất nhiều khái niệm về tín dụng ngân hàng như: Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay một bên là ngân hàng và người đi vay là các đối tượng ngoài ngân hành, giữa các bên có mối quan hệ thông qua vốn tín dụng, nó được biểu hiện dưới hình thức là tiền tệ hoặc hàng hóa thuộc ngân hàng. Trong quan hệ tài chính này tín dụng được coi là Luan van 6 một giao dịch về các tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể một bên là ngân hàng và bên được vay.
Tín dụng ngân hàng được hiểu là mối quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng của ngân hàng, trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định mà ngân hàng quy định Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong hợp đồng. Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời hạn. Khái niệm ủy thác tín dụng ngân hàng Ủy thác tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng giao cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên được nhận ủy thác, nhằm nhân danh người nhận ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm thì thông qua ủy thác.
Như vậy ủy thác là việc một bên (bên ủy thác) giao vốn bằng tiền cho một bên khác (bên nhận ủy thác) để thực hiện hoạt động theo quy định của Pháp luật (Thông tư 30/2014/TT-NHNN, ngày 6/11/2014 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam). Theo Điều 106 Luật Tổ chức tín dụng (2010), Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động ủy thác tín dụng ngân hàng bao gồm 04 yếu tố, các hoạt động ủy thác mà không đảm bảo có đủ 4 yếu tố này thì sẽ không được coi là hoạt động ủy thác tín dụng ngân hàng + Bên ủy thác giao vốn bằng tiền cho bên nhận ủy thác thường là bên được vay + Sử dụng cho các đối tượng thụ hưởng của hoạt động ủy thác Luan van 7 + Mục đích, lợi ích hợp pháp do bên ủy thác được chỉ định. + Hoạt động được dựa trên cơ sở hợp đồng ủy thác.
Ngân hàng chính sách xã hội và các hoạt động ủy thác 1. Ngân hành Chính sách xã hội NHCSXH được thành lập nhằm mực tiêu thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi đặc biệt đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trong xã hội. Với mục tiêu chính là hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, sinh lời, và NHCSXH được Nhà nước bảo đảm thông qua khả năng thanh toán và tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế theo quy định và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước khác. NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ như: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội.
NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh , dân chủ, công bằng, văn minh.Hoạt động ủy thác của ngân hàng hính sách xã hội Theo quy chế hoạt động NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống; là ngân hàng tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển vốn; nhằm bù đắp chi phí và các rủi ro hoạt động tín dụng. NHCSXH không tham gia bảo hiểm tiền gửi, là ngân hàng có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, được ưu tiên miễn thuế và các nghĩa vụ phải nộp ngân sách Nhà nước. Luan van 8 NHCSXH là ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục tiêu lớn nhất là vì an sinh xã hội, thực hiện cho vay đối với các đối tượng với lãi suất và các điều kiện cho vay ưu đãi, mục tiêu chủ yếu của NHCSXH là xóa đói giảm nghèo cho các vùng nong thôn. Mức cho vay và lãi suất cho vay của NHCSXH theo Quyết định của Chính phủ từng thời kỳ và tùy thuộc vào mục tiêu từng giai đoạn.
NHCSXH ngoài nguồn vốn chủ yếu được nhận từ ngân hàng nhà nước thì NHCSXH còn nhận được vốn uỷ thác từ chính quyền địa phương như từ các quỹ tín dụng hay từ quỹ từ thiện cho những người nghèo của nhà nước, từ các tổ chức kinh tế, từ các tổ chức tài chính tín dụng, từ các tổ chức chính trị xã hội, từ các hiệp hội, từ các tổ chức phi chính phủ, từ các cá nhân trong nước và ngoài nước để NHCSXH cho vay vốn đối với các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác của nhà nước. Đối tượng vay vốn của NHCSXH là những hộ gia đình nghèo, các đối tượng là các hộ chính sách gặp khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống và không đủ điều kiện để vay vốn từ các ngân hàng thương mại, các đối tượng là các hộ sinh sống ở những xã thuộc các vùng khó khăn (theo Quyết định số 30/2007/QĐ- TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ). - Phương thức cho vay thông qua ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội là 04 tổ chức chính trị - xã hội gồm: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hay gọi tắt là tổ chức Hội, đoàn thể - Có Hội đồng quản trị và Ban đại diện HĐQT các cấp. Ý nghĩa và vai trò và điều kiện của việc ủy thác cho vay thông qua tổ chức hội, đoàn thể của NHCSXH.
Ý nghĩa và vai trò của hoạt động ủy thác cho vay - Công khai hóa, xã hội hóa hoạt động của NHCSXH. Luan van 9 - Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của tổ chức Hội, đoàn thể giúp nhân dân được tiếp cận, thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tạo một kênh dẫn vốn hữu hiệu, tin cậy đối với nhân dân và cấp ủy Đảng, chính quyền. - Củng cố hoạt động của tổ chức Hội, đoàn thể ở cơ sở. Thông qua hoạt động tín dụng, các tổ chức Hội, đoàn thể có điều kiện quan tâm hơn đến hội viên, làm cho sinh hoạt Hội, đoàn thể có nội dung phong phú hơn.
- Thông qua việc ủy thác cho vay, các tổ chức Hội, đoàn thể có thể lồng ghép việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị khác, góp phần tiết giảm chi phí xã hội. - Giúp cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính, tiết kiệm của NHCSXH một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí khi vay vốn. - Thông qua việc bình xét công khai hộ vay vốn, phát huy vai trò của tổ chức Hội, đoàn thể đảm bảo đưa vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng (https://vbsp. Điều kiện của hoạt động ủy thác cho vay Đối với hộ vay: Phải là thành viên Tổ TK&VV và chấp hành các quy ước hoạt động của Tổ.
* Đối với Tổ TK&VV: Hoạt động theo đúng Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2013 của Hội đồng quản trị NHCSXH và tuân thủ nguyên tắc công khai, dân chủ, công bằng. * Đối với tổ chức Hội: Có mạng lưới hoạt động đến thôn bản.; Có uy tín trong nhân dân và có tín nhiệm với NHCSXH; Có cán bộ am hiểu và được tập huấn nghiệp vụ NHCSXH; Có khả năng tuyên truyền và kiểm tra, giám sát hoạt động Tổ. Được NHCSXH ký văn bản Liên tịch và văn bản Thoả thuận (https://vbsp.vn) Luan van 10 1. Nội dung ủy thác cho vay qua các tổ chức hội, đoàn thể NHCSXH ủy thác cho 04 tổ chức Hội, đoàn thể thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác của NHCSXH, cụ thể như sau: 1.
Công tác tuyên truyền, vận động - Thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi và các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.