Chương 1: Giới thiệu tổng quan - Chương 2 ụ 123doc 4 - Chương 3 : Thực trạng về rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chương 4 ại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. 123doc 5 CHƢƠNG 2. Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng.
Quy mô của từng hợp đồng vay nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Lãi suất cho vay tiêu dùng cao vì có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong danh mục cho vay của tổ chức tín dụng do cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại, việc vay mượn từ các tổ chức tín dụng sẽ hạn chế khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.
Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất. Người tiêu dùng quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân trí có tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng. Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định do thông tin của khách hàng khó tiếp cận (những thông tin cá nhân đáng ra khách hàng phải trình bày thường được dễ dàng giấu kín, chẳng hạn như triển vọng về công việc hoặc sức khỏe) song 123doc 6 lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Hơn nữa, thông tin về một khách hàng cá nhân có liên quan đến rủi ro của một khoản vay là rất khó thu thập. Ngoài ra, khi một cá nhân rơi vào một khủng hoảng tài chính họ rất khó vượt qua. Bên cạnh đó, các khoản vay Cá nhân không diễn ra thường xuyên, do đó các thông tin về khách hàng có thể bị thay đổi liên tục và rất khó quản lý các thông tin này, mặc dù có sự quản lý thông tin từ phía ngân hàng Nhà nước thì các thông tin này cũng không được cập nhật. Chính vì các lý do trên mà các khoản vay Cá nhân phải được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt trước các vấn đề đặc biệt có liên quan.
Là các nhu cầu của cá nhân tùy thuộc vào tình hình tài chính của họ mà có những mức độ khác nhau. Ở những cá nhân có thu nhập thấp nhu cầu vay tiêu dùng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu giao dịch tạo ra sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Với những cá nhân có thu nhập trung bình, nhu cầu về vay tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh do việc, hoặc là có ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng hơn dùng khoản tiền dự phòng của mình, hoặc không tiết chế nhu cầu tiêu thụ của mình mà lao vào những chi tiêu có tính chất phô trương hoặc thời trang dẫn tới quá khả năng thu nhập của chính họ. Ở những cá nhân có thu nhập cao, nhu cầu vay tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc là một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu, nhất là khi vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tư dài hạn.
Xét về số tuyệt đối, nhu cầu ở nhóm người này thường lớn. Các cá nhân được đề cập ở đây là những cá nhân có đủ năng lực pháp lý (cũng có thể họ đại diện cho một hộ gia đình) thuộc nhiều thành phần khác nhau, như công chức Nhà nước, viên chức của các đơn vị không phải Nhà nước, những người lao động tự do v.v… Nhu cầu vay tiêu dùng được biểu hiện cụ thể qua các mục đích chủ yếu: mua, sửa chữa cải tạo nâng cấp nhà ở; các chuyển động sản: xe hơi, xe máy…; các đồ dùng sinh hoạt: đồ gỗ, phương tiện thông tin và các dụng cụ sinh hoạt khác; các chi phí cho hôn lễ; nghỉ ngơi, học tập của sinh viên v. + Căn cứ vào mục đích vay có thể phân loại cho vay tiêu dùng thành 2 loại: - Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu mua, xây dựng, sửa chữa nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. - Cho vay tiêu dùng không cư trú: là các khoản cho vay phục vụ cho mục đích mua đồ dùng sinh hoạt gia đình, phương tiện vận chuyển, chi phí học hành hoặc giải trí khác… + Căn cứ vào phương thức hoàn trả có thể chia thành 3 loại: - Cho vay tiêu dùng trả góp: là hình thức vay mà người đi vay trả cho tổ chức tín dụng một số tiền bằng nhau nhất định trên mỗi kỳ hạn (hàng tháng, quý hoặc 6 tháng).
Số tiền thanh toán định kỳ gồm nợ gốc (là khoản tiền nhất định trả mỗi kỳ hạn, thường bằng nhau) và nợ lãi tính trên dư nợ thực tế. Phương thức này thường áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán một lần hết số nợ vay. Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng, loại hình này giúp cho khách hàng vay không bị áp lực trả nợ vào cuối kỳ cao. - Cho vay tiêu dùng phi trả góp: tiền vay được khách hàng thanh toán cho tổ chức tín dụng chỉ một lần khi đến hạn.
Thường khoả ả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn vay không dài (thường dưới một năm), đối tượng khách hàng thu nhập khá cao. - Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là khoản vay mà tổ chức tín dụng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có quyền vay và trả nhiều lần mà không vượt quá hạn mức tín dụng của mình. Loại vay này thường được áp dụng cho vay thấu chi, thẻ tín dụng. Loại vay tuần hoàn dễ áp dụng, thuận tiện cho khách hàng trong việc chủ động sử dụng nguồn tiền linh hoạt, thông thường đây là những khoản vay nhỏ, khách hàng có nguồn tiền ra - vô thường xuyên.
- Cho vay qua thẻ là một loại hình cho vay phổ biến của cho vay tiêu dùng tuần hoàn, với một hạn mức được cấp khách hàng có thể rút vượt số dư trên tài khoản của mình. 123doc 8 + Căn cứ vào hình thức vay có thể phân loại cho vay tiêu dùng thành 2 loại: - Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó tổ chức tín dụng mua lại khoản nợ từ các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng và thu lại từ khách hàng. Hình thức này tổ chức tín dụng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. - Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ trực tiếp gặp nhau để tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng; khách hàng sẽ nhận tiền vay từ tổ chức tín dụng hoặc chuyển vào tài khoản của các doanh nghiệp mà họ sẽ mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các chủ nợ của họ,… 2.
Fitch thì RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của NH. Căn cứ Thông tư 02/2012/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước thì: “RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD, do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, RRTD là rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của NH với KH, biểu hiện trên thực tế qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH.
RRTD gây ra tổn thất tài chính, làm giảm thu nhập, ảnh hưởng khả năng thanh khoản của NH. Đây là loại rủi ro lớn nhất, quan trọng nhất trong hoạt động NH, là rủi ro chủ yếu của rủi ro NH. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia ra thành 2 loại là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk): 123doc 9 Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính sau: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục được phân chia thành 2 loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.