Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng huyện pác nặm tỉnh bắc kạn

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

73
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1. Khái niệm thuật ngữ

2.1.1.1. Nghèo

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình hình giảm nghèo tại xã An Thắng

Xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Dao. Tình hình giảm nghèo tại đây đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Theo số liệu, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58,74% năm 2018 xuống còn 52,65% năm 2020. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn cao, đặc biệt là ở nhóm dân tộc Mông. Việc giảm nghèo bền vững cần được chú trọng hơn nữa để đảm bảo cuộc sống của người dân không chỉ thoát nghèo mà còn phát triển ổn định. Chính sách giảm nghèo hiện tại cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế địa phương, nhằm nâng cao đời sốngnâng cao thu nhập cho người dân.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của xã An Thắng

Xã An Thắng có điều kiện tự nhiên khó khăn, với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Người dân chủ yếu làm nông, chăn nuôi, nhưng sản xuất còn manh mún, thiếu tính hàng hóa. Tình trạng thiếu việc làmthu nhập thấp là nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói. Hơn nữa, trình độ dân trí còn thấp, khả năng tiếp cận giáo dụcy tế hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế của người dân. Để giảm nghèo bền vững, cần có các giải pháp đồng bộ, từ đào tạo nghề đến hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội.

II. Các giải pháp giảm nghèo bền vững

Để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững cho người dân tộc Dao tại An Thắng, cần triển khai một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường hỗ trợ kinh tế cho các hộ nghèo thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi. Việc hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp cũng cần được khuyến khích để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị. Thứ hai, cần chú trọng đến giáo dụcđào tạo nghề cho người dân, giúp họ có kỹ năng cần thiết để tham gia vào thị trường lao động. Cuối cùng, việc bảo tồn văn hóatruyền thống của người dân tộc Dao cũng cần được xem xét, nhằm tạo ra sự phát triển bền vững mà không làm mất đi bản sắc văn hóa.

2.1. Tăng cường hỗ trợ kinh tế

Chính sách hỗ trợ kinh tế cần được thiết kế để phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Cần có các chương trình cho vay vốn với lãi suất thấp, giúp người dân đầu tư vào sản xuất. Bên cạnh đó, việc xây dựng các mô hình phát triển cộng đồng cũng rất quan trọng, nhằm tạo ra sự liên kết giữa các hộ gia đình trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Các chương trình khuyến nông cũng cần được triển khai để hướng dẫn người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

III. Đánh giá và triển khai các chính sách

Việc thực hiện các chính sách giảm nghèo cần được đánh giá thường xuyên để điều chỉnh kịp thời. Cần có sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, nhằm đảm bảo rằng các giải pháp đưa ra thực sự phù hợp với nhu cầu của họ. Hơn nữa, việc giám sátđánh giá hiệu quả của các chương trình giảm nghèo cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình mà còn tạo ra sự tin tưởng của người dân vào các chính sách của nhà nước.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững. Cần tạo ra các diễn đàn để người dân có thể bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình. Việc này không chỉ giúp chính quyền hiểu rõ hơn về thực trạng của người dân mà còn tạo ra sự gắn kết giữa chính quyền và cộng đồng. Hơn nữa, việc khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động hợp tác xã cũng sẽ giúp họ nâng cao ý thức cộng đồng và phát triển kinh tế một cách bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm thuật ngữ 1. Nghèo Hiện nay có nhiều quan niệm về đói nghèo.

Quan niệm của tổ chức và chuyên gia quốc tế về đói, nghèo của UNDP đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau: - Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ. - Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. - Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác. Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo.

Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (tức định lượng) được bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất mà khái niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu không được thỏa mãn thì họ chính là những người nghèo đói. Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã đưa ra hai khái niệm khác nhau, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. - Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu.

Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói. Luan van 6 - Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân.

Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm nghèo tuyệt đối. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước.

Khái niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Vậy giảm nghèo là gì? Giảm nghèo là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà nước, của xã hội để triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm tác động tới các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người. Giảm nghèo bền vững là gì? Cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững.

Ngược lại, phát triển kinh tế bền vững lại là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bền vững. Giảm nghèo bền vững: Là kiên quyết không để tái nghèo, là phải duy trì các nguồn lực, các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thực hiện triển khai liên tục có hướng đích, có mục tiêu để không cho đói nghèo quay trở lại chính nơi chúng ta đang tích cực thực hiện xóa đói, nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảm nghèo. Tái nghèo: Một hộ được gọi là tái nghèo khi hộ đó đã thoát nghèo nhưng vì nguyên nhân nào đó đã không còn khả năng ứng phó với những bất lợi trong cuộc sống dẫn đến đói nghèo, tức là có mức thu nhập thấp hơn mức chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn. Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến khi có tác động của thiên tai, rủi ro, bệnh tật hoặc do chuẩn nghèo thay đổi ở mức cao hơn.

Luan van 7 Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trước hết cần đảm bảo cả 2 mặt: số lượng và chất lượng. Số lượng giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm), cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này sẽ chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo,. Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm (thể hiện về mặt lượng), tuy nhiên nếu xét về mặt chất lượng thì nhìn chung đại bộ phận nhân dân ở nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao đều có thu nhập thấp, chỉ đạt trên chuẩn nghèo khoảng 5-10%; trong điều kiện giá cả 18 vật tư cho sản xuất, hàng hóa cho tiêu dùng thiết yếu đều tăng nhanh; dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt xảy ra với quy mô, tần suất lớn, tập trung ở những vùng nghèo, thiệt hại về sản xuất, tài sản và nhà ở rất lớn, đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo hết sức khó khăn; khả năng tự phục hồi sau hậu quả dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt của hộ nghèo rất hạn chế, trong khi đó chúng ta lại chưa có cơ chế, phương thức hỗ trợ tại chỗ của cộng đồng (như quỹ hỗ trợ cộng đồng,.

Mặt khác, tốc độ giảm nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn giữa các vùng trên cả nước (Chu Tiến Quang, 2006). Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo và làm giàu bằng chính khả năng của mình dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội sẵn có. Luan van 8 Nhiều người thường nói: “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống”,. Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững.

Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận. Tác giả luận văn cũng đồng ý với quan niệm trên về giảm nghèo bền vững.

Đây chính là việc tặng “cần câu” thay vì tặng “xâu cá”, bên cạnh đó còn tạo cho họ khả năng tự biết tìm cách nuôi cá thay vì chỉ đi câu,… tạo ra sự chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Bên cạnh đó cần có biện pháp giúp họ phòng ngừa rủi ro, để tự họ có thể khắc phục rủi ro như họ có thể tự chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, xây dựng lại nhà cửa sau thiên tai,. Muốn vậy, người nghèo cần được tiếp cận và duy trì với các loại dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, pháp lý,… Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm xác định nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực hạn chế như của chúng ta hiện nay. Do vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt được các xu hướng và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những bài toán, bất cập nêu trên.

Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như: - Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập, nếu gặp rủi ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo. Luan van 9 - Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương. - Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh,… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ dân tộc Dao tại xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn" của tác giả Hoàng Xuân Hành, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Ngọc, thuộc trường Đại học Thái Nguyên, tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp hiệu quả nhằm giảm nghèo bền vững cho cộng đồng dân tộc Dao. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kinh tế xã hội của người dân tộc Dao mà còn đề xuất những phương pháp cụ thể để cải thiện đời sống và phát triển kinh tế địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng các giải pháp phát triển bền vững trong bối cảnh nông thôn Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến phát triển nông thôn và giảm nghèo, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, nơi cũng đề cập đến các giải pháp giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng sẽ cung cấp thêm thông tin về các mô hình giảm nghèo tại một địa phương khác. Cuối cùng, bài viết Luận văn về giải pháp phát triển nghề rèn truyền thống Phúc Sen huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng cũng có thể mang lại những góc nhìn mới về phát triển kinh tế địa phương, từ đó giúp bạn mở rộng kiến thức về các giải pháp phát triển bền vững trong cộng đồng.