Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Cho Hộ Nông Dân Tại Xã Trương Lương, Huyện Hòa An, Tỉnh Cao Bằng

Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân tại xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội.

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiệu cụ thể

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

1.4. Bố cục của đề tài

2. PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Khái niệm về hộ nông dân

2.2. Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo

2.2.1. Khái niệm về nghèo

2.2.2. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo

2.2.2.1. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là vấn đề xã hội nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tình trạng nghèo đói không chỉ gây ra những khó khăn trong đời sống hàng ngày mà còn cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu hàng đầu của chính phủ Việt Nam, đặc biệt tại các vùng nông thôn như xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Theo số liệu, tỷ lệ hộ nghèo tại xã Trương Lương vẫn còn cao, với 13,13% hộ nghèo vào năm 2015. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả để giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân tại đây. Việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Khái niệm về hộ nông dân và nghèo đói là rất quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp giảm nghèo. Hộ nông dân được hiểu là đơn vị sản xuất chính trong nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nghèo đói không chỉ đơn thuần là thiếu thốn về vật chất mà còn liên quan đến việc thiếu cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế. Các tiêu chí đánh giá nghèo đói hiện nay bao gồm cả chỉ số phát triển con người (HDI) và các tiêu chí về nhu cầu cơ bản. Việc hiểu rõ các khái niệm này sẽ giúp xác định đúng nguyên nhân và từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Trương Lương.

III. Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở xã Trương Lương

Thực trạng nghèo tại xã Trương Lương cho thấy nhiều hộ nông dân vẫn đang phải đối mặt với khó khăn trong cuộc sống. Các chương trình giảm nghèo đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bao gồm thiếu vốn đầu tư, thiếu kiến thức về sản xuất nông nghiệp hiện đại, và sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng. Đặc biệt, các hộ nghèo thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội. Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để có cái nhìn tổng quan về tình hình nghèo đói tại địa phương, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể và hiệu quả hơn.

IV. Định hướng và giải pháp

Để giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Trương Lương, cần có một chiến lược tổng thể và đồng bộ. Các giải pháp có thể bao gồm việc nâng cao năng lực sản xuất cho hộ nông dân thông qua đào tạo kỹ thuật, cung cấp vốn vay ưu đãi, và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc triển khai các chương trình hỗ trợ. Việc tạo ra các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, kết hợp với việc phát triển các sản phẩm địa phương sẽ giúp tăng thu nhập cho hộ nông dân, từ đó góp phần giảm nghèo bền vững.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn xã trương lương huyện hòa an tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Định hướng và giải pháp n 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm về hộ nông dân 2. Khái niệm về hộ Hộ đã có từ rất lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau xong vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”.

Qua nguyên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: - Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. - Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. - Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”[8].

Đây mới chủ yếu nêu lên những khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất. Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau: - Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống. - Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh, có vốn chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần kinh n 6 tế đồng nhất mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước… - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế.

Hộ nông dân Về hộ nông dân, Nhà khoa học Traianốp cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” [11]. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế của xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [12]. Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức của cá nhân, tôi cho rằng: - “Hộ nông dân là những hộ sinh sống ở vùng nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài hoạt động nông nghiệp hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ …) ở các mức độ khác nhau.

Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo 2. Khái niệm về nghèo Trên thế giới nghèo được quan niệm: Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về nghèo đói là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [17]. Từ khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa ra khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [17]. Liên hợp quốc đã đưa ra hai khái niệm nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: n 7 - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu.

Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định cộng đồng. - Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định phụ thuộc chung vào mức sống xã hội.

Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Việt Nam nghèo được quan niệm: Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thảo mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [17]. Tương tự, có thể định nghĩa nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định [1]. Như vậy, nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà còn ở cả những phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân.

Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới n 8 Thứ nhất là, tiêu chí chỉ số phát triển con người (HDI – Human Development Index) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Là chỉ số so sánh dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ dân cư trung bình, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân trên đầu người trong năm [18]. Chỉ số này được sử dụng trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1997 của UNDP. Bao gồm các nhân tố cụ thể: (i) Một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ. (iii) Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đô-la- Mỹ.

Thứ hai là, tiêu chí đánh giá nghèo theo mức chỉ tiêu tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người: Theo tiêu chí này, năm 1997 ngân hàng Thế giới đã đưa ra các mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương của đại phương so với thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống, theo đó mức chi tối thiểu tổng quát cho mức nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD/người/ngày; mức nghèo là 2 USD/người/ngày trở xuống cho các châu Mỹ latinh và vùng Caribe; mức 4USD/ngày/người trở xuống cho những nước ở Đông Âu. Từ năm 2005, Ngân hàng thế giới và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã áp dụng chuyển nghèo đối với các nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương thay cho mức chuẩn nghèo trước đó vẫn dùng là mức 1 USD/người/ngày theo mức giá năm 1993 [18]. Thứ ba là, chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI- Nultidimensional poverty Index), chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, ứng dụng bởi OPHDI (Oxford Poverty and Human Development initive) trực thuộc trường đại học Oxford, MPI thay thế chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI)đã được nêu trên các báo cáo phát triển con người thường niên từ 1997 và được sử dụng khá phổ biến trong các n 9 báo cáo về đói nghèo từ năm 2010 [23]. MPI đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn theo các cấp độ của hộ gia đình trên 3 khía cạnh đó là: Giáo dục, sức khỏe và mức sống.

Khía cạnh Giáo dục có hai đại lượng chỉ thị đó là số năm đi học và việc đến lớp của trẻ em. Khía cạnh sức khỏe có hai đại lượng chỉ thị đó là số trẻ em tử vong và sự suy dinh dưỡng.Khía cạnh Mức sống có 6 đại lượng chỉ thị đó là mức sử dụng điện, đồ gia dụng tiện ích (tiên tiến), việc sử dụng nước sạch, sàn nhà ở, nguồn năng lượng sinh hoạt và giá trị tài sản sở hữu. Chỉ số nghèo khổ đa chiều là một khái niệm mới được WB và UNDP quan tâm và sử dụng nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, trong phương pháp xác định MPI do cần phải xác định được “điểm cắt chỉ thị” của sự nghèo khổ cho từng đại lượng chỉ thị, trong khi các thông tin này đòi hỏi phải được xác định khá phức tạp, nên tiêu chí hiện nay chưa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về đói nghèo.

Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo của việt Nam: Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn còn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Tại việt nam Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội là cơ quan được chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo từng giai đoạn (xem bảng 1. Mức chuẩn nghèo giai đoạn 2016 -2020 áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ - TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Cho Hộ Nông Dân Xã Trương Lương, Hòa An, Cao Bằng" trình bày những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện đời sống cho hộ nông dân tại xã Trương Lương. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, phát triển kinh tế địa phương và nâng cao nhận thức cộng đồng về giảm nghèo. Những giải pháp này không chỉ giúp tăng thu nhập cho hộ nông dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển xã hội bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chương trình giảm nghèo và phát triển nông thôn, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp đánh giá công tác xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015-2017, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hoạt động xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn cũng sẽ mang đến những giải pháp cụ thể cho các cộng đồng dân tộc thiểu số. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, để có cái nhìn tổng quát hơn về chính sách giảm nghèo trong các khu vực dân tộc thiểu số. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều thông tin và góc nhìn đa dạng về vấn đề giảm nghèo bền vững.