Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Cho Hộ Nông Dân Tại Xã Trương Lương, Huyện Hòa An, Tỉnh Cao Bằng

Tài liệu nghiên cứu Luận văn giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn xã trương lương huyện hòa an, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiệu cụ thể

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

1.4. Bố cục của đề tài

2. PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Khái niệm về hộ nông dân

2.2. Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo

2.2.1. Khái niệm về nghèo

2.2.2. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững ở Cao Bằng

Xóa đói giảm nghèo bền vững là một vấn đề cấp bách toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là yếu tố then chốt để đảm bảo công bằng xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc giảm nghèo, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa và các dân tộc thiểu số. Xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, là một trong những địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các giải pháp giảm nghèo hiệu quả và bền vững. Theo tài liệu nghiên cứu, năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của xã Trương Lương vẫn còn ở mức 13,13%.

1.1. Tầm quan trọng của giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân

Giảm nghèo bền vững không chỉ đơn thuần là nâng cao thu nhập mà còn là tạo ra sinh kế bền vững cho người dân. Điều này bao gồm việc đảm bảo khả năng tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho cộng đồng. Giảm nghèo bền vững cũng đòi hỏi sự tham gia tích cực của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách, chương trình phát triển.

1.2. Mục tiêu của chương trình giảm nghèo tại xã Trương Lương

Mục tiêu chính của chương trình giảm nghèo tại xã Trương Lương là cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, đặc biệt là các hộ nông dân nghèo. Điều này bao gồm việc nâng cao thu nhập, tạo việc làm, cải thiện điều kiện sống và tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội. Chương trình cũng hướng đến việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và phát triển bền vững, nơi mọi người dân đều có cơ hội phát triển và hưởng thụ thành quả của sự phát triển.

II. Thách Thức Giảm Nghèo Bền Vững Tại Xã Trương Lương Cao Bằng

Xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, đối mặt với nhiều thách thức trong công cuộc giảm nghèo bền vững. Địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu kém là những rào cản lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, trình độ dân trí còn thấp, tập quán canh tác lạc hậu, thiếu vốn và kỹ thuật sản xuất cũng là những yếu tố kìm hãm sự phát triển của hộ nông dân. Theo nghiên cứu, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói là do thiếu vốn sản xuất và kỹ thuật canh tác.

2.1. Hạn chế về cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên

Cơ sở hạ tầng yếu kém, đặc biệt là giao thông nông thôn, gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa, tiếp cận thị trường và các dịch vụ xã hội. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Địa hình đồi núi dốc cũng hạn chế khả năng mở rộng diện tích canh tác và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và kỹ năng sản xuất của hộ nông dân

Hầu hết các hộ nông dân đều thiếu vốn sản xuất, kỹ thuật canh tác lạc hậu, thiếu thông tin về thị trường và các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Trình độ dân trí còn thấp, khả năng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Nhiều người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, thiếu ý chí vươn lên thoát nghèo.

2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu gây ra những tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng nguy cơ dịch bệnh và thiên tai. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo có sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp.

III. Cách Nâng Cao Thu Nhập Cho Hộ Nông Dân Trương Lương

Để giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân tại xã Trương Lương, việc nâng cao thu nhập là yếu tố then chốt. Cần tập trung vào phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, cần đa dạng hóa sinh kế, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, du lịch cộng đồng để tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân. Theo tài liệu, việc phát triển các mô hình kinh tế hộ gia đình hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng.

3.1. Phát triển chuỗi giá trị nông sản địa phương

Xây dựng và phát triển chuỗi giá trị nông sản địa phương, từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, giúp nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và tăng thu nhập cho người dân. Cần chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu nông sản, đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa người sản xuất, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học để đảm bảo tính bền vững của chuỗi giá trị.

3.2. Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

Khuyến khích hộ nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, như sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý. Cần tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ thuật cho người dân để nâng cao trình độ sản xuất và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế.

3.3. Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa, khai thác tiềm năng du lịch của địa phương để tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân. Cần chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách. Đồng thời, cần đào tạo, nâng cao kỹ năng làm du lịch cho người dân để đảm bảo chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của du khách.

IV. Chính Sách Hỗ Trợ Giảm Nghèo Bền Vững Tại Trương Lương

Để giảm nghèo bền vững hiệu quả, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các chính sách của nhà nước và địa phương. Các chính sách cần tập trung vào việc cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, tạo điều kiện tiếp cận thị trường và các dịch vụ xã hội. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động để nâng cao nhận thức của người dân về giảm nghèo bền vững và khuyến khích họ chủ động tham gia vào quá trình này. Theo tài liệu, việc thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo là rất quan trọng.

4.1. Tiếp cận vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo và cận nghèo

Tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèocận nghèo tiếp cận vốn vay ưu đãi từ các ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng khác. Cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm thiểu chi phí giao dịch và tăng cường giám sát việc sử dụng vốn vay để đảm bảo hiệu quả. Đồng thời, cần có các biện pháp hỗ trợ người dân trả nợ đúng hạn, tránh tình trạng nợ xấu.

4.2. Đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn

Tăng cường đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ. Cần đào tạo các nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, như may mặc, chế biến nông sản, du lịch, dịch vụ. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin về thị trường lao động và các cơ hội việc làm.

4.3. Nâng cao chất lượng giáo dục và y tế cộng đồng

Nâng cao chất lượng giáo dụcy tế cộng đồng, đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ này. Cần đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất trường học, trạm y tế, tăng cường đội ngũ giáo viên, y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo và người dân tộc thiểu số được đi học, khám chữa bệnh.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Giảm Nghèo

Nghiên cứu về giảm nghèo bền vững tại xã Trương Lương cần được ứng dụng vào thực tiễn để mang lại hiệu quả thiết thực. Các mô hình kinh tế thành công, các giải pháp kỹ thuật hiệu quả cần được nhân rộng để giúp người dân nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Đồng thời, cần đánh giá hiệu quả của các chính sách, chương trình giảm nghèo để có những điều chỉnh phù hợp, đảm bảo tính bền vững của công cuộc giảm nghèo. Theo tài liệu, việc đánh giá tác động xã hội và môi trường của các dự án giảm nghèo là rất quan trọng.

5.1. Nhân rộng các mô hình kinh tế hộ gia đình hiệu quả

Tổng kết và nhân rộng các mô hình kinh tế hộ gia đình hiệu quả, như mô hình trồng trọt, chăn nuôi kết hợp, mô hình sản xuất nông sản sạch, an toàn. Cần lựa chọn các mô hình phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương và có khả năng nhân rộng cao. Đồng thời, cần hỗ trợ người dân về vốn, kỹ thuật và thị trường để họ có thể áp dụng thành công các mô hình này.

5.2. Đánh giá tác động của các chính sách giảm nghèo

Thường xuyên đánh giá tác động của các chính sách giảm nghèo để có những điều chỉnh phù hợp. Cần đánh giá cả tác động kinh tế, xã hội và môi trường của các chính sách này. Đồng thời, cần thu thập ý kiến phản hồi từ người dân để có những điều chỉnh sát với thực tế và đáp ứng nhu cầu của họ.

5.3. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quá trình giảm nghèo

Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quá trình giảm nghèo, từ khâu lập kế hoạch đến triển khai và giám sát. Cần tạo điều kiện cho người dân được bày tỏ ý kiến, tham gia vào việc ra quyết định và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo. Đồng thời, cần nâng cao năng lực cho cộng đồng để họ có thể chủ động tham gia vào quá trình này.

VI. Tương Lai Của Giảm Nghèo Bền Vững Tại Xã Trương Lương

Công cuộc giảm nghèo bền vững tại xã Trương Lương đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cần có tầm nhìn dài hạn, kế hoạch cụ thể và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Đồng thời, cần phát huy nội lực của cộng đồng, khuyến khích người dân chủ động vươn lên thoát nghèo. Với sự quyết tâm và đồng lòng, xã Trương Lương sẽ đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc giảm nghèo bền vững, góp phần xây dựng một xã hội ấm no, hạnh phúc. Theo tài liệu, sự hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giảm nghèo.

6.1. Phát triển kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp hữu cơ

Hướng tới phát triển kinh tế tuần hoànnông nghiệp hữu cơ, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và tạo ra các sản phẩm nông sản an toàn, chất lượng cao. Cần khuyến khích người dân sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo, giảm thiểu chất thải và áp dụng các biện pháp canh tác thân thiện với môi trường.

6.2. Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất và tiêu thụ nông sản

Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất và tiêu thụ nông sản, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Cần xây dựng các hệ thống thông tin thị trường, các sàn giao dịch điện tử để kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Đồng thời, cần đào tạo người dân về kỹ năng sử dụng công nghệ số để họ có thể tham gia vào quá trình này.

6.3. Tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư

Tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, như phát triển nông nghiệp, du lịch, giáo dục, y tế. Cần xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và có tính cạnh tranh cao. Đồng thời, cần chủ động tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ để hỗ trợ công cuộc giảm nghèo.

05/06/2025
Luận văn giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn xã trương lương huyện hòa an tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Định hướng và giải pháp 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm về hộ nông dân 2. Khái niệm về hộ Hộ đã có từ rất lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau xong vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”.

Qua nguyên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: - Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. - Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. - Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”[8].

Đây mới chủ yếu nêu lên những khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất. Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau: - Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống. - Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh, có vốn chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần kinh 6 tế đồng nhất mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước… - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế.

Hộ nông dân Về hộ nông dân, Nhà khoa học Traianốp cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” [11]. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế của xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [12]. Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức của cá nhân, tôi cho rằng: - “Hộ nông dân là những hộ sinh sống ở vùng nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài hoạt động nông nghiệp hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ …) ở các mức độ khác nhau.

Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo 2. Khái niệm về nghèo Trên thế giới nghèo được quan niệm: Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về nghèo đói là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [17]. Từ khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa ra khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [17]. Liên hợp quốc đã đưa ra hai khái niệm nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: 7 - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu.

Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định cộng đồng. - Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định phụ thuộc chung vào mức sống xã hội.

Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Việt Nam nghèo được quan niệm: Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thảo mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [17]. Tương tự, có thể định nghĩa nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định [1]. Như vậy, nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà còn ở cả những phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân.

Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới 8 Thứ nhất là, tiêu chí chỉ số phát triển con người (HDI – Human Development Index) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Là chỉ số so sánh dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ dân cư trung bình, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân trên đầu người trong năm [18]. Chỉ số này được sử dụng trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1997 của UNDP. Bao gồm các nhân tố cụ thể: (i) Một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ. (iii) Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đô-la- Mỹ.

Thứ hai là, tiêu chí đánh giá nghèo theo mức chỉ tiêu tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người: Theo tiêu chí này, năm 1997 ngân hàng Thế giới đã đưa ra các mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương của đại phương so với thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống, theo đó mức chi tối thiểu tổng quát cho mức nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD/người/ngày; mức nghèo là 2 USD/người/ngày trở xuống cho các châu Mỹ latinh và vùng Caribe; mức 4USD/ngày/người trở xuống cho những nước ở Đông Âu. Từ năm 2005, Ngân hàng thế giới và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã áp dụng chuyển nghèo đối với các nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương thay cho mức chuẩn nghèo trước đó vẫn dùng là mức 1 USD/người/ngày theo mức giá năm 1993 [18]. Thứ ba là, chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI- Nultidimensional poverty Index), chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, ứng dụng bởi OPHDI (Oxford Poverty and Human Development initive) trực thuộc trường đại học Oxford, MPI thay thế chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI)đã được nêu trên các báo cáo phát triển con người thường niên từ 1997 và được sử dụng khá phổ biến trong các 9 báo cáo về đói nghèo từ năm 2010 [23]. MPI đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn theo các cấp độ của hộ gia đình trên 3 khía cạnh đó là: Giáo dục, sức khỏe và mức sống.

Khía cạnh Giáo dục có hai đại lượng chỉ thị đó là số năm đi học và việc đến lớp của trẻ em. Khía cạnh sức khỏe có hai đại lượng chỉ thị đó là số trẻ em tử vong và sự suy dinh dưỡng.Khía cạnh Mức sống có 6 đại lượng chỉ thị đó là mức sử dụng điện, đồ gia dụng tiện ích (tiên tiến), việc sử dụng nước sạch, sàn nhà ở, nguồn năng lượng sinh hoạt và giá trị tài sản sở hữu. Chỉ số nghèo khổ đa chiều là một khái niệm mới được WB và UNDP quan tâm và sử dụng nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, trong phương pháp xác định MPI do cần phải xác định được “điểm cắt chỉ thị” của sự nghèo khổ cho từng đại lượng chỉ thị, trong khi các thông tin này đòi hỏi phải được xác định khá phức tạp, nên tiêu chí hiện nay chưa được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về đói nghèo.

Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo của việt Nam: Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn còn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Tại việt nam Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội là cơ quan được chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo từng giai đoạn (xem bảng 1. Mức chuẩn nghèo giai đoạn 2016 -2020 áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ - TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Cho Hộ Nông Dân Tại Xã Trương Lương, Huyện Hòa An, Tỉnh Cao Bằng" trình bày những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện đời sống cho hộ nông dân tại địa phương. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp sản xuất nông nghiệp bền vững, từ đó giúp nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy những chiến lược cụ thể, như phát triển cây trồng, chăn nuôi và hợp tác xã, nhằm tạo ra giá trị kinh tế lâu dài.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp giải pháp phát triển sản xuất bưởi diễn theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về sản xuất nông sản bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất nông sản. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về hiệu quả của hợp tác xã trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững.