Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đói nghèo là vấn đề xã hội nan giải mang tính toàn cầu, đồng thời là mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế quan trọng, vươn lên thành một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Mặc dù vậy, quy mô người nghèo vẫn còn lớn và tỷ lệ nghèo phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Xã Trương Lương là một trong những xã nghèo nhất thuộc huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của toàn xã vẫn ở mức 13,13%, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kinh tế thuần nông chậm phát triển và bộ mặt nông thôn chưa có nhiều chuyển biến. Trong bối cảnh địa phương phải thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, công tác giảm nghèo trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chưa phân tích sâu vào khía cạnh giảm nghèo theo hướng "bền vững" và chưa đánh giá tổng thể thực trạng để đề xuất các giải pháp dài hạn phù hợp với từng giai đoạn cụ thể tại địa phương. Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp của tác giả Triệu Văn Quyền, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Châu tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa học 2012 – 2016), được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn này.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là trên cơ sở khảo sát thực trạng đói nghèo của các hộ nông dân trên địa bàn xã Trương Lương, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững.
- Đánh giá thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của các hộ nông dân xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
- Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Trương Lương trong những năm tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo của các hộ nông dân xã Trương Lương trong những năm qua diễn ra như thế nào?
- Đâu là nguyên nhân dẫn đến nghèo của hộ nông dân xã Trương Lương trong thời gian qua?
- Các chính sách và chương trình giảm nghèo đang áp dụng tại xã Trương Lương đạt được kết quả và bộc lộ hạn chế gì?
- Cần có những giải pháp chủ yếu nào nhằm giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân xã Trương Lương trong những năm tới?
Đối tượng nghiên cứu là các hộ gia đình trong cộng đồng xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn xã Trương Lương, tập trung khảo sát trực tiếp tại 3 xóm đại diện gồm xóm Gùa, xóm Nà Thúm và xóm Kéo Tằm. Phạm vi thời gian sử dụng nguồn số liệu thứ cấp giai đoạn 3 năm (2013 - 2015), số liệu sơ cấp điều tra trong năm 2015, thời gian triển khai đề tài từ ngày 04/01/2016 đến ngày 15/05/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm khoa học về hộ và kinh tế hộ từ các tổ chức quốc tế (Liên Hợp Quốc, Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980) cùng các công trình của A.V. Chayanov và Lê Đình Thắng (1993), khẳng định nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất vừa tiêu dùng tại nông thôn.
Về đói nghèo, tác giả tiếp cận theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), khái niệm nghèo tuyệt đối và tương đối của Liên Hợp Quốc, cùng định nghĩa của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok tháng 9/1993. Các tiêu chí chuẩn nghèo quốc tế được tổng hợp gồm: Chỉ số phát triển con người (HDI) của UNDP (1997), chuẩn nghèo chi tiêu tối thiểu của WB và IMF (1 USD/người/ngày năm 1993, nâng lên 1,25 USD/người/ngày từ năm 2005 theo sức mua tương đương), và Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) do OPHI (Đại học Oxford) phát triển dựa trên 3 chiều: Giáo dục, Sức khỏe và Mức sống.
Tại Việt Nam, văn bản pháp lý nền tảng được trích dẫn gồm hệ thống chuẩn nghèo qua các thời kỳ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.
| Giai đoạn |
Đơn vị tính |
Vùng nông thôn |
Vùng thành thị |
| 1993 - 1994 |
Kg gạo/người/tháng |
15 |
20 |
| 1995 - 1997 |
Kg gạo/người/tháng |
15 (miền núi, hải đảo) / 20 (đồng bằng, trung du) |
25 |
| 1998 - 2000 |
Đồng/người/tháng |
55.000 (miền núi, hải đảo) / 70.000 (đồng bằng, trung du) |
90.000 |
| 2001 - 2005 |
Đồng/người/tháng |
80.000 (miền núi, hải đảo) / 100.000 (đồng bằng, trung du) |
150.000 |
| 2006 - 2010 |
Đồng/người/tháng |
200.000 |
260.000 |
| 2011 - 2015 |
Đồng/người/tháng |
400.000 |
500.000 |
| 2016 - 2020 |
Đồng/người/tháng |
700.000 |
900.000 |
Khóa luận sử dụng mô hình 5 nhân tố của sự đói nghèo của Phil Bartle (gồm: Sự thiếu hiểu biết, Bệnh tật, Sự thờ ơ, Tính không thành thật/tham nhũng, và Sự phụ thuộc), kết hợp mô hình phát triển bền vững 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường) theo IUCN (1980), Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) và Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg. Các trạng thái nghèo được phân định rõ: nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo và thoát nghèo bền vững. Ngoài ra, tác giả phân tích bài học kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia) và kinh nghiệm giảm nghèo thực tiễn tại các tỉnh Kon Tum (Nghị quyết 30a), Bắc Giang (Chương trình 134, 135), Lào Cai và Tuyên Quang.
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp được tiến hành tại UBND xã Trương Lương, các phòng ban chuyên môn huyện Hòa An và các tài liệu thống kê liên quan giai đoạn 2013 - 2015. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn đối với 60 hộ gia đình tại 3 xóm đại diện cho các điều kiện địa lý - kinh tế khác nhau của xã:
- Xóm Gùa: Xóm vùng thấp, nằm gần trục đường huyện lộ Hòa An - Thông Nông, giao thông bê tông hóa, thủy lợi thuận lợi cho trồng lúa nước và cây thuốc lá.
- Xóm Nà Thúm: Xóm gần trung tâm xã, địa hình trung bình, thủy lợi còn khó khăn, có đồng bào DTTS sinh sống.
- Xóm Kéo Tằm: Xóm vùng cao xa nhất, địa hình đồi núi phức tạp, đa số là đồng bào DTTS, chưa có điện lưới quốc gia, đường giao thông chưa được bê tông hóa hoàn toàn.
Quy mô mẫu 60 hộ được phân bổ đều cho 3 xóm (mỗi xóm 20 hộ), phân tầng theo 3 nhóm kinh tế: 12 hộ trung bình - khá (chiếm 20%), 18 hộ cận nghèo (chiếm 30%) và 30 hộ nghèo (chiếm 50%).
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu kết hợp giữa thống kê mô tả (tần suất, trung bình, mode, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất), phương pháp so sánh (dãy số thời gian, số tương đối) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA). Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân, nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính OLS (áp dụng dạng hàm Cobb-Douglas/tuyến tính đa biến) phân tích trên phần mềm SPSS:
$$Y = \beta_0 + \beta_1 X_1 + \beta_2 X_2 + \beta_3 X_3 + \beta_4 X_4 + \beta_5 X_5 + \beta_6 X_6 + \beta_7 X_7 + e_i$$
| Ký hiệu |
Tên biến |
Nội dung biến |
Đơn vị tính |
Kỳ vọng |
| Y |
TONGTHU |
Tổng thu nhập của hộ |
1.000 đồng |
Phụ thuộc |
| $X_1$ |
GIOITINH |
Giới tính chủ hộ |
Nam/Nữ (Biến giả) |
+/- |
| $X_2$ |
TUOICH |
Tuổi của chủ hộ |
Năm |
-/- |
| $X_3$ |
TRINHDOVH |
Trình độ văn hóa của chủ hộ |
Lớp |
+ |
| $X_4$ |
SONHANKHAU |
Số nhân khẩu của hộ |
Người |
+/- |
| $X_5$ |
DTNN |
Diện tích đất nông nghiệp |
$m^2$ |
+ |
| $X_6$ |
DTLN |
Diện tích đất lâm nghiệp |
$m^2$ |
+ |
| $X_7$ |
VONVAY |
Vốn vay của hộ |
1.000 đồng |
+/- |
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực tiễn của một xã miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao như Trương Lương, xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát và 4 mục tiêu cụ thể, nêu bật ý nghĩa học thuật, ý nghĩa thực tiễn đối với chính quyền địa phương, đồng thời công bố bố cục gồm 5 phần chính của khóa luận.
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này tập trung làm rõ hệ thống khái niệm về hộ nông dân, các thước đo nghèo đói (HDI, MPI, chuẩn nghèo tiền tệ của Việt Nam và quốc tế), cơ chế tác động của 5 nhân tố đói nghèo theo Phil Bartle và mô hình phát triển bền vững 3 thành phần. Nội dung thực tiễn phân tích kinh nghiệm giảm nghèo của Nhật Bản (chính sách ruộng đất, bảo trợ nông nghiệp), Thái Lan (chính sách đất đai và việc làm phi nông nghiệp), Malaysia (kết hợp tăng trưởng với giáo dục bình đẳng), và bài học từ các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam như Kon Tum, Bắc Giang, Lào Cai, Tuyên Quang; từ đó rút ra 7 bài học áp dụng cho xã Trương Lương.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu thực địa, bao gồm tiêu chí lựa chọn 3 xóm đại diện (Gùa, Nà Thúm, Kéo Tằm), quy trình điều tra chọn mẫu phân tầng 60 hộ gia đình, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, kỹ thuật phỏng vấn PRA, các công cụ thống kê mô tả và khung toán học của hàm hồi quy tuyến tính đo lường các nhân tố tác động đến tổng thu nhập hộ gia đình.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các số liệu điều tra thực tế tại địa bàn xã Trương Lương:
Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên đất đai: Xã Trương Lương cách trung tâm huyện Hòa An 17 km, cách thị xã Cao Bằng 33 km, có đường huyện lộ Hòa An - Thông Nông và Tỉnh lộ 204 đi qua. Địa hình chia làm 3 dạng: thung lũng ven sông Nguyên Bình và sông Dẻ Rào chiếm 6,48%; núi đất cao 300 - 500m (độ dốc >20 độ) chiếm 54,4%; núi đá cao 350 - 400m chiếm 27%. Đất đai chủ yếu là đất thịt (chiếm 80%).
| Chỉ tiêu |
Năm 2013 (ha) |
Cơ cấu 2013 (%) |
Năm 2014 (ha) |
Cơ cấu 2014 (%) |
Năm 2015 (ha) |
Cơ cấu 2015 (%) |
| Tổng diện tích tự nhiên |
3.704,16 |
100,00 |
3.704,16 |
100,00 |
3.695,11 |
100,00 |
| 1. Nhóm đất nông nghiệp |
3.512,49 |
94,82 |
3.512,49 |
94,83 |
3.542,96 |
95,88 |
| - Đất sản xuất nông nghiệp |
388,90 |
11,07 |
391,90 |
11,16 |
411,38 |
11,61 |
| - Đất lâm nghiệp |
3.120,08 |
88,83 |
3.113,82 |
88,74 |
3.127,90 |
88,28 |
| - Đất nuôi trồng thủy sản |
3,50 |
0,10 |
3,50 |
0,10 |
3,59 |
0,10 |
| 2. Nhóm đất phi nông nghiệp |
133,64 |
3,61 |
139,97 |
3,78 |
147,05 |
3,98 |
| - Đất ở |
10,81 |
8,09 |
15,31 |
10,94 |
15,36 |
10,45 |
| - Đất chuyên dùng |
52,04 |
38,94 |
53,87 |
38,49 |
71,24 |
48,45 |
| - Đất nghĩa trang, nghĩa địa |
2,00 |
1,50 |
2,00 |
1,43 |
0,79 |
0,54 |
| - Đất sông suối, kênh rạch |
68,79 |
51,47 |
68,79 |
49,15 |
59,66 |
40,57 |
| 3. Nhóm đất chưa sử dụng |
58,04 |
1,57 |
51,70 |
1,39 |
5,10 |
0,14 |
Tình hình nhân khẩu và xã hội: Năm 2015, toàn xã có 617 hộ với 2.437 nhân khẩu tại 12 xóm. Cơ cấu dân tộc gồm: dân tộc Tày có 269 hộ (chiếm 44,98%), dân tộc Nùng có 260 hộ (chiếm 43,48%), dân tộc Dao có 43 hộ (chiếm 7,19%), dân tộc Mông có 16 hộ (chiếm 2,68%), các dân tộc khác chiếm 1,67%. Tổng số lao động trong độ tuổi là 1.800 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 98,3%, lao động phi nông nghiệp chỉ có 30 người (1,7%). Về giáo dục, xã có 1 trường mầm non (8 giáo viên chuẩn, 88 cháu), 2 trường tiểu học (22 giáo viên chuẩn, 141 học sinh), 2 trường THCS (20 giáo viên chuẩn, 118 học sinh); tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100% (90% vào THPT, 10% học nghề).
Kết quả sản xuất ngành nông - lâm nghiệp:
- Trồng trọt: Cây lương thực (lúa và ngô) có tổng diện tích gieo trồng năm 2015 là 267 ha. Cây công nghiệp ngắn ngày đạt 193,3 ha, trong đó thuốc lá là cây trồng mũi nhọn: năm 2013 đạt 142 ha (sản lượng 275,5 tấn), năm 2014 đạt 142,8 ha (sản lượng 396,27 tấn) và năm 2015 đạt 148,3 ha với năng suất 28 tạ/ha, sản lượng đạt 415,24 tấn. Lúa mùa giữ ổn định ở mức 180 ha (năng suất 41 tạ/ha, sản lượng 738 tấn). Lúa xuân năm 2015 đạt 26 ha (năng suất 49,5 tạ/ha, sản lượng 128,7 tấn). Diện tích sắn năm 2015 mở rộng lên 16 ha (sản lượng 172,8 tấn).
- Chăn nuôi: Quy mô đàn vật nuôi có sự biến động rõ rệt giữa các năm:
| Chỉ tiêu vật nuôi |
Đơn vị tính |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
| Đàn trâu |
Con |
659 |
668 |
748 |
| Đàn bò |
Con |
278 |
287 |
252 |
| - Bò cày kéo |
Con |
148 |
137 |
80 |
| - Bò sinh sản |
Con |
102 |
115 |
122 |
| - Bê |
Con |
28 |
35 |
50 |
| Đàn lợn |
Con |
1.309 |
1.429 |
2.996 |
| Tổng đàn gia cầm |
Con |
4.723 |
4.826 |
6.112 |
| Đàn dê |
Con |
87 |
165 |
352 |
| Đàn ong |
Đàn |
62 |
260 |
275 |
| Thịt trâu bò hơi |
Tấn |
25,30 |
27,29 |
28,14 |
| Thịt lợn hơi |
Tấn |
35,60 |
38,90 |
40,20 |
| Trứng |
1.000 quả |
31,50 |
30,60 |
35,80 |
| Mật ong |
Lít |
50 |
209 |
221 |
Số lượng máy cày tay toàn xã đạt 185 chiếc, lý giải việc sụt giảm đàn bò cày kéo (từ 148 con năm 2013 xuống 80 con năm 2015).
Thực trạng hạ tầng, môi trường và xây dựng nông thôn mới: Đến hết năm 2015, xã mới đạt 5/19 tiêu chí nông thôn mới. Tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 75,25% (450 hộ), tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn chỉ có 2,17%, và vẫn còn 47,99% số hộ (287/598 hộ) duy trì tập quán nuôi gia súc dưới gầm sàn. Hoạt động thương mại - dịch vụ hạn chế với chỉ 16 hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Thực trạng hộ điều tra và phân tích hồi quy: Khảo sát 60 hộ làm rõ cơ cấu tài sản, đất đai, nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các chính sách hỗ trợ tiền điện, Chương trình 135. Đánh giá nguyên nhân đói nghèo chỉ ra: thiếu vốn, thiếu đất canh tác lúa, tập quán canh tác lạc hậu, tỷ lệ phụ thuộc cao (đông con), thiếu hiểu biết KHKT và tư tưởng ỷ lại vào chính sách của Nhà nước. Mô hình hồi quy khẳng định mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tổng thu nhập hộ với các biến đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, trình độ học vấn chủ hộ và quy mô vốn vay.
Phần 5: Định hướng và giải pháp
Tác giả đề xuất mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2021, đưa ra nhóm giải pháp chung (quy hoạch vùng sản xuất, hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, đường giao thông liên thôn), nhóm giải pháp cụ thể (chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thâm canh cây thuốc lá, phát triển chăn nuôi đại gia súc và lợn thương phẩm), các giải pháp nâng cao năng lực nội sinh (thay đổi nhận thức, xóa bỏ tư tưởng trông chờ hỗ trợ), giải pháp đặc thù cho hộ nghèo DTTS, và phân định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng nỗ lực tự thân của hộ gia đình.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã phản ánh hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về kinh tế nông hộ và công tác giảm nghèo tại xã Trương Lương:
- Làm rõ hiện trạng sử dụng 3.695,11 ha đất tự nhiên năm 2015, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm diện tích nhỏ (411,38 ha, tương đương 11,61% nhóm đất nông nghiệp), tạo áp lực sinh kế lớn lên 617 hộ gia đình với 98,3% lao động làm nông nghiệp.
- Xác định cây thuốc lá là cây trồng thương phẩm chủ lực, có sự tăng trưởng vững chắc từ 142 ha (sản lượng 275,5 tấn) năm 2013 lên 148,3 ha (năng suất 28 tạ/ha, sản lượng 415,24 tấn) năm 2015.
- Chỉ ra bước chuyển trong cơ giới hóa nông nghiệp thông qua việc toàn xã trang bị 185 máy cày tay, kéo theo sự sụt giảm của đàn bò cày kéo từ 148 con xuống 80 con, đồng thời đàn trâu thương phẩm tăng lên 748 con và đàn lợn tăng đột biến đạt 2.996 con năm 2015.
- Đo lường chính xác các chỉ tiêu xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 là 13,13%; tỷ lệ hộ có 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn chỉ đạt 2,17%; 47,99% số hộ còn nuôi gia súc dưới gầm sàn; xã mới hoàn thành 5/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
- Về giải pháp, đề tài đề xuất khung chính sách cho giai đoạn 2016 - 2021 tập trung vào: thâm canh nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu thuốc lá liên kết doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi phòng dịch qua hệ thống thú y; phát triển kinh tế lâm nghiệp với các mô hình trồng keo, thông phân tán (năm 2015 đã trồng 35.100 cây trên 18 ha); và giải pháp nâng cao năng lực nội sinh, kiên quyết khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại của hộ nghèo.
Đóng góp tự nêu của tác giả là đã tiếp cận công tác giảm nghèo dưới góc độ bền vững thay vì các giải pháp cứu trợ ngắn hạn; phân loại và đánh giá sâu sắc các yếu tố nguồn lực của 3 nhóm hộ (nghèo, cận nghèo, trung bình - khá) tại địa bàn đặc thù miền núi; ứng dụng mô hình định lượng xác định vai trò của các biến số học vấn, đất đai, nguồn vốn đối với thu nhập hộ; cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ kế hoạch giảm nghèo của xã Trương Lương đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu thể hiện ở quy mô điều tra thực địa dừng lại ở 60 hộ gia đình phân bổ tại 3 xóm đại diện, chưa thể bao quát toàn bộ 617 hộ tại 12 xóm trên địa bàn toàn xã. Số liệu sơ cấp được thu thập theo phương pháp điều tra cắt ngang tại thời điểm năm 2015, chuỗi dữ liệu thứ cấp tương đối ngắn (3 năm 2013 - 2015). Ngoài ra, do kiến thức và kinh nghiệm thực tế ban đầu của sinh viên còn hạn chế, nghiên cứu chưa lượng hóa sâu sắc các yếu tố rủi ro bất thường như thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường giá cả nông sản.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ 12 xóm của xã Trương Lương nhằm nắm bắt đầy đủ sự phân hóa sinh kế giữa các cụm dân cư vùng cao và vùng thấp; đồng thời cập nhật dữ liệu và phương pháp đánh giá theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 (theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg) để theo dõi nguy cơ tái nghèo của hộ nông dân và đồng bào DTTS trong dài hạn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế và Khuyến nông trong việc tìm hiểu quy trình kết hợp phương pháp nghiên cứu PRA với mô hình định lượng để đánh giá kinh tế hộ miền núi.
Tài liệu là nguồn dữ liệu thực chứng có giá trị cho Ủy ban nhân dân xã Trương Lương, các ban ngành đoàn thể xã và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Hòa An trong việc hoạch định các chương trình sinh kế, xây dựng nông thôn mới và phân bổ nguồn lực chính sách giai đoạn 2016 - 2021. Các phần đáng tham khảo nhất bao gồm hệ thống chỉ tiêu thống kê đất đai, cơ cấu cây trồng - vật nuôi, khung bảng hỏi và thiết kế mô hình hồi quy các biến số ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ hộ nghèo của xã Trương Lương vào năm 2015 là bao nhiêu và thành phần dân tộc tại xã phân bố như thế nào?
Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của xã Trương Lương là 13,13%. Toàn xã có 617 hộ với 2.437 nhân khẩu thuộc 5 dân tộc chính: dân tộc Tày có 269 hộ (44,98%), dân tộc Nùng có 260 hộ (43,48%), dân tộc Dao có 43 hộ (7,19%), dân tộc Mông có 16 hộ (2,68%), và các dân tộc khác chiếm 1,67%.
Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa của đề tài được lựa chọn và phân tầng như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 60 hộ gia đình tại 3 xóm đại diện (mỗi xóm 20 hộ): xóm Gùa (vùng thấp, giao thông thuận lợi, đất tốt), xóm Nà Thúm (trung tâm, thủy lợi khó khăn) và xóm Kéo Tằm (vùng cao, địa hình hiểm trở, đa số DTTS, chưa có điện lưới). Mẫu được phân tầng theo 3 nhóm kinh tế: 12 hộ trung bình - khá (20%), 18 hộ cận nghèo (30%) và 30 hộ nghèo (50%).
Loại cây trồng và vật nuôi nào giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của xã Trương Lương giai đoạn 2013 - 2015?
Về trồng trọt, lúa là cây lương thực chính với diện tích lúa mùa ổn định 180 ha (sản lượng 738 tấn), và thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày chủ lực với diện tích tăng từ 142 ha năm 2013 lên 148,3 ha năm 2015 (năng suất 28 tạ/ha, sản lượng 415,24 tấn). Về chăn nuôi, đàn trâu tăng từ 659 con (năm 2013) lên 748 con (năm 2015), và đàn lợn tăng từ 1.309 con lên 2.996 con.
Vì sao quy mô đàn bò của xã Trương Lương lại giảm từ 278 con năm 2013 xuống còn 252 con năm 2015?
Nguyên nhân chính là do nhu cầu sử dụng bò làm sức cày kéo của các hộ nông dân giảm đi rõ rệt khi địa phương đưa cơ giới hóa vào sản xuất, với tổng số máy cày tay trên toàn xã năm 2015 đạt 185 chiếc; số lượng bò cày kéo theo đó giảm mạnh từ 148 con năm 2013 xuống còn 80 con năm 2015.
Mô hình hồi quy trong đề tài sử dụng những biến số nào để phân tích ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân?
Mô hình sử dụng biến phụ thuộc là tổng thu nhập hộ (TONGTHU) và 7 biến độc lập giải thích gồm: Giới tính chủ hộ (GIOITINH), Tuổi chủ hộ (TUOICH), Trình độ văn hóa chủ hộ (TRINHDOVH), Số nhân khẩu trong hộ (SONHANKHAU), Diện tích đất nông nghiệp (DTNN), Diện tích đất lâm nghiệp (DTLN) và Quy mô vốn vay (VONVAY).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Triệu Văn Quyền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững và phản ánh chi tiết bức tranh kinh tế - xã hội thuần nông của xã Trương Lương, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 - 2015. Thông qua điều tra thực địa 60 hộ gia đình tại 3 xóm đại diện và phân tích mô hình hồi quy, công trình đã lượng hóa rõ vai trò của tư liệu sản xuất, vốn vay và trình độ học vấn đối với thu nhập hộ, đồng thời chỉ ra những rào cản lớn về hạ tầng, tập quán canh tác và vệ sinh môi trường nông thôn. Các giải pháp đề xuất giai đoạn 2016 - 2021 mang tính đồng bộ, gắn phát triển chuỗi giá trị cây thuốc lá và chăn nuôi với việc nâng cao năng lực nội sinh của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.