Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, nó được khống chế về diện tích không gian, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là nơi sinh sống, lao động của con người. Không chỉ trong giai đoạn hiện nay chúng ta mới thấy được tầm quan trọng của đất mà từ xa xưa ông cha ta đã có câu tục ngữ: “Tấc đất, tấc vàng”. Chính vì lẽ đó đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người, nó liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp tới đời sống của con người. Nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, về diện tích, có tính cố định về vị trí.
Nền kinh tế thị trường hình thành đã biến đất đai trở thành hàng hóa đặc biệt. Dân số tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, xã hội phát triển càng làm cho giá trị đất đai tăng lên và nguồn tài nguyên đất đai ngày càng cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng không hợp lý. Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Đổ biết bao mồ hôi xương máu của các thế hệ ông cha ta để giữ gìn mảnh đất quê hương, đất nước.
Thế hệ chúng ta là những người được hưởng những thành quả đó, vì vậy chúng ta cần sử dụng, bảo vệ, quản lý và khai thác có hiệu quả nhất. Đất nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH, nhu cầu sử dụng đất đai cho phát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp, khu du lịch – dich vụ, khu dân cư, các công trình cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình khác phục vụ cho phát triển KT - XH cũng như đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống con người. Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý đất đai mới bằng việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông – lâm nghiệp, tiến hành giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn 2 định lâu dài. Chính sự thay đổi này đã làm cho đất đai ngày càng có giá được đem trao đổi trên thị trường, dùng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng thế chấp vay vốn với ngân hàng, tổ chức tín dụng, được đem góp vốn liên doanh trong sản xuất – kinh doanh.
Số lượng các khiếu kiện, tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng.Việc thu hồi, bố trí sắp xếp lại đất đai đáp ứng cho các nhu cầu trên một cách khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài và bền vững là một vấn đề lớn và cấp thiết. Để thực hiện các dự án mang lại lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia thì cần phải có địa điểm xây dựng điều này gắn liền với công tác giải phóng mặt bằng. Đây là một khâu quan trọng trong quá trình thực hiện các công trình hay một dự án đầu tư xây dựng. Công tác giải phóng mặt bằng ảnh hưởng rất lớn tới tiến độ thực hiện của dự án và sự phát triển KT - XH.
Thu hồi đất, bồi thường đất hỗ trợ để giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một khâu quan trọng then chốt của cả quá trình phát triển. Bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án, là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp liên quan tới mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước, của từng địa phương. Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam còn đang gặp nhiều khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải có những biện pháp nhằm thúc đẩy công tác giải phóng mặt bằng. Nhà nước đã thường xuyên rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu trên, được sự nhất trí của BGH nhà trường, ban chủ nhiêm khoa Quản Lý Tài Nguyên – trường đại học Nông 3 Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng tại xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng của xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên. Nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng để đưa ra biện pháp giải quyết.
Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải phóng mặt bằng. Đánh giá quy trình của công tác giải phóng mặt bằng của xã. Tìm hiểu thực trạng định giá đất và đền bù thiệt hại trong công tác giải phóng mặt bằng của xã. Xác định những thuận lợi khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng của xã, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục và đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Bổ sung và hoàn thiện kiến thức đã được học trong nhà trường cho bản thân. Đồng thời tiếp cận và thấy được những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng trong thực tế. Nắm vững quy định của Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 và các văn bản dưới Luật về đất đai của Trung Ương và địa phương về công tác giải phóng mặt bằng.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Qua quá trình nghiên cứu công tác giải phóng mặt bằng, sẽ thấy được những việc đã làm được và chưa làm được trong việc thực hiện công tác này. Từ đó rút ra những kinh nghiệm và đưa ra giải pháp phù hợp với thực tế nhằm thúc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. Yêu cầu Bám sát và thực hiện theo Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai 2013 hiện hành cùng các văn bản hướng dẫn kèm theo. Số liệu thu thập phải đầy đủ, chính xác, khách quan, trung thực.
Chấp hành đầy đủ chính sách đất đai của nhà nước, quy trình quy phạm, quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường. 5 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Ngày nay, kinh tế xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp. Vì vậy, để sử dụng đất đai một cách khoa học, tiết kiệm mang lại hiệu quả cao nhất thì nhà nước phải có chế độ chính sách về đất đai mang tính pháp lý song phải hợp lý và chặt chẽ nhằm quản lý toàn bộ quỹ đất. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá cho sự phát triển của kinh tế xã hội. Có tầm quan trọng của đất đai đối với nhà nước đã quản lý chặt chẽ bằng pháp luật và hệ thống các văn bản.
Theo chương 2, mục 2, điều 22 của Luật đấy đai 2013 quy định Nội dung quản lý nhà nước về đất đai gồm 15 nội dung: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra, xây dựng giá đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Quản lý việc bồi dưỡng, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Thống kê, kiểm kê đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Sơ lược về công tác giải phóng mặt bằng Dân số trên thế giới ngày càng tăng cao, mà quỹ đất đai lại có hạn nên con người cần đưa ra biện pháp sử dụng đất đai hợp lý. Quy hoạch quỹ đất đai sao cho phù hợp với nền kinh tế và sự bùng nổ dân số thế giới hiện nay. Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, Nhà nước thu hồi những vùng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: hệ thống giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, cơ sở hạ tầng xã hội là quy luật tất yếu của sự phát triển. Nhìn vào sự phát triển của các nước trên thế giới ta thấy nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập quốc dân, trong khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều.
Tỷ lệ dân đô thị cao đặc biệt ở các nước phát triển. Công tác giải phóng mặt bằng cần thiết để phân bổ lại quỹ đất đai theo các quy hoạch đã được đưa ra. Chịu trách nhiệm di dời các công trình trên đất để cải tạo, mở rộng và thực hiện các dự án theo quy hoạch đưa ra để sử dụng đất hợp lý. Công tác giải phóng mặt bằng là Nhà nước tiến hành thu hồi đất của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình.
Mỗi dự án có sử dụng đất được thực hiện tại 7 những vùng, khu vực nhất định với đặc điểm tự nhiên, KT – XH khác nhau vì thế đối tượng giải phóng mặt bằng rất đa dạng và phức tạp.