Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kinh doanh du lịch và công nghệ 4. Du lịch và kinh doanh du lịch 1. Du lịch Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Tuy nhiên du lịch chỉ có thể trở thành một vấn đề thực tế, hấp dẫn và phổ biến khi cuộc cách mạng công nghiệp khởi đầu năm 1764 đã cho ra đời hàng loạt phương tiện vận chuyển nhanh hơn, an toàn hơn trước.
Những cơ sở lưu trú tiện nghi mọc lên ở khắp nơi làm cho du lịch bắt đầu trở nên phổ biến ở mọi tầng lớp trong xã hội. Vào những năm 1840, hệ thống đường sắt phát triển ở Anh và Tây Âu, 1880 – tàu thủy đóng bằng thép, chạy bằng hơi nước ra đời đánh dấu sự bắt đầu thời kì hoàng kim của những chuyến du lịch sang trọng Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ những nước có kinh tế phát triển mà còn cả ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Du lịch không còn là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm người mà du lịch đã trở thành một nhu cầu phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Tuy nhiên, khái niệm du lịch dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau cũng có cách hiều khác nhau Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh có định nghĩa về du lịch như sau : “ du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí.
Ở đây sự giải trí là động cơ chính” Năm 1930, ông Glusman ( Thụy Sĩ ) đã định nghĩa : “ du lịch là sự chinh phục không gian của những người mà đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên” 4 Theo định nghĩa của hai học giả Thụy Sĩ Hunziker và Kraff đã được hiệp hội các chuyên gia du lịch thừa nhận : “ du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và làm việc thường xuyên của họ’’ Theo các tiếp cận này, du lịch được hiểu là : “ Tổng số các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch , các nhà kinh doanh, chính quyền và dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách” Ở Việt Nam, khái niệm du lịch đã được quy định trong Luật du lịch và được hiểu là : “ du lịch là các hoạt động có liên quan của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định 1. Kinh doanh du lịch Kinh doanh du lịch cũng như mọi loại hình thức kinh doanh khác, bao gồm tất cả các bước tổ chức sản xuất hàng hóa du lịch ký kết các hợp đồng kinh tế du lịch, tổ chức thực hiện hợp đồng. Theo pháp luật Việt Nam năm 1999 : “ Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một hay một số các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” Du lịch là một hiện tượng có từ xa xưa, tồn tại cùng phát triển của loài người, là một trong những nhu cầu nhu cầu ngày càng trở nên tất yếu giúp con người điều hòa cuộc sống của chính mình trong xã hội. Tuy nhiên , việc kinh doanh trong mảng du lịch ra đời muộn hơn nhiều với dấu mốc sự thành lập hãng lữ hành Thomas Cook vào giữa thế kỉ XIX – hãng lữ hành đầu tiên trên thế giới.
Bắt đầu bằng việc tổ chức những chuyến đi trong phạm vi trong nước phục vụ học sinh, phụ huynh và các cặp vợ chồng sau đó là các tuyến du lịch quốc tế 5 sang châu Âu và các chuyến đi vòng quanh thế giới. Sự ra đời của hãng lữ hành Thomas Cook là mốc quan trọng, đánh dấu sự ra đời hình thành của các hãng lữ hành làm cầu nối giữa khác du lịch và các thành phần phục vụ du lịch để hoạt động du lịch trở nên thuận tiện hơn. Hoạt động kinh doanh du lịch rất đa dạng và phong phú với đối tượng phục vụ là khách du lịch do vậy nó bao gồm nhiều mảng như: kinh doanh lữ hành, kinh doanh cơ sở lưu trú, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh dịch vụ thông tin du lịch.Coltman : “ Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình”. Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những sản phẩm hữu hình ( hàng hóa ) và những sản phẩm vô hình ( dịch vụ ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.
Sản phâm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ hoặc sản phẩm tổng hợp Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định : “ sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Như vậy hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Dịch vụ du lịch gồm : dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lữ hành; dịch vụ lưu trú, ăn uống; dịch vụ vui chơi, giải trí; dịch vụ mua sắm; dịch vụ thông tin, hướng dẫn; dịch vụ trung gian và bổ sung. Tài nguyên du lịch gồm : tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên. Khác với các loại hàng hóa thông thường sản phẩm hàng hóa trao đổi giữa hai bên cung cầu trong du lịch không phải là vật chất cụ thể, cái mà du khách có được là sự cảm giác, trải nghiệm hoặc hưởng thụ, vì thế trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau.
Sự trao đổi 6 sản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sản phẩm tại nơi du lịch. Cùng một sản phẩm du lịch vẫn bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sử dụng, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyển dịch quyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay người kinh doanh, đây chính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch. Công ty lữ hành và kinh doanh du lịch lữ hành 1. Công ty lữ hành 1.
Khái niệm Công ty lữ hành ( Tour Operator) là các đơn vị kinh doanh lữ hành có trách nhiệm điều hành và tổ chức một chương trình du lịch trọn gói/sản phẩm du lịch thông qua việc ký kết hợp đồng, đặt giữ chỗ và điều hành việc cung cấp dịch vụ du lịch theo hợp đồng 1. Các loại công ty lữ hành Công ty lữ hành inbound : thị trường khách chính là các hãng lữ hành nước ngoài gửi khách từ thị trường nguồn; các hãng hàng không quốc tế; các công ty chuyên tổ chức sự kiện quốc tế. Công ty lữ hành outbound : thị trường khách chính là các tổng công ty, các khu công nghiệp.( khách đoàn) và người dân ( khách lẻ) Công ty lữ hành nội địa 1. Các nhóm công việc chính của các công ty lữ hành Nghiên cứu thị trường khách du lịch Xây dựng sản phẩm du lịch Xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch Tư vấn và bán sản phẩm/dịch vụ du lịch Tổ chức thực hiện chương trình du lịch Thu nhận phản hồi từ du khách để cải thiện sản phẩm 7 1.
Kinh doanh du lịch lữ hành 1. Khái niệm Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng, bán , tổ chức, thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lời. Và hoạt động du lịch trọn gói được coi là “ mang tính chất đặc trưng cho hoạt động kinh doanh lữ hành du lịch”. Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh cà bán cho khác du lịch với một mức giá gộp 1.
Các loại hình kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành nội địa: là phục vụ thị trường khách bên trong Việt Nam và cung cấp sản phẩm du lịch ở tại Việt Nam , do vậy việc tiếp cận và tìm kiếm thị trường dễ dàng và việc xây dựng sản phẩm du lịch cũng thuận tiện hơn Kinh doanh lữ hành quốc tế: Đối với khách du lịch vào Việt Nam ( inbound) : phục vụ thị trường khách từ bên ngoài và cung cấp sản phẩm du lịch trong Việt Nam , do vậy việc tiếp cận và tìm kiếm thị trường rất khó khăn, mặt khác sản phẩm du lịch phục vụ đối tượng khách không phải người Việt nên đòi hỏi hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao Đối với khách du lịch ra nước ngoài ( outbound) : phục vụ thị trường khách bên trong Việt Nam và cung cấp sản phẩm du lịch ở nước ngoài, do vậy việc tiếp cận và tìm kiếm thị trường dễ dàng, nhưng vì sản phẩm du lịch ở nước ngoài đòi hỏi sự hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao 1. Khách du lịch Khách du lịch là thuật ngữ dùng để chỉ những người đi du lịch. Ở Việt Nam , khái niệm khách du lịch tại luật du lịch (2005) như sau: “ khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch , trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.’ Như vậy, khách du lịch là những người 8 ra khỏi nơi lưu trú thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho các mục đích khác nhau nhưng không làm việc nhận thu nhập ở nơi đến Theo định nghĩa như vậy, những người sau đây không được coi là khách du lịch - Những người ra nước ngoài để tìm kiếm việc làm hoặc để làm theo hợp đồng. - Những công dân ở vùng giáp giới, sống ở nước bên này nhưng làm việc ở nước bên kia - Những người dân di cư tạm thời hoặc cố định.