mở đầu và tạo hiệu ứng lan truyền trong tổng thể nền kinh tế để chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc điều chỉnh hợp lý cơ cấu kinh tế của mình, nguyên nhân là các nước quan tâm đến vấn đề này là: - Trong mấy thập kỷ qua, các nước vùng châu Á Thái Bình Dương đã tận dụng khá tốt những lợi thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới. Nhờ đó, đã xuất hiện những nước công nghiệp hoá mới, và có những nước đứng vào hàng ngũ các nước có tốc độ tăng trưởng cao. Luan van 15 - Để đổi mới công nghệ sản xuất, các nước công nghiệp hoá tìm cách chuyển những công nghệ lạc hậu hoặc kém tính cạnh tranh sang các nước kém phát triển hơn.
Mặt khác, các nước kém phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình độ thấp để từng bước tham gia vào thị trường thế giới, tạo ra cơ may, tự điều chỉnh hành vi và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. - Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra những lĩnh vực công nghệ mới, có hiệu quả cao, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến, có khả năng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường. Một cơ cấu kinh tế hiệu quả và hợp lý trong thực tế được thông qua các biểu hiện sau: - Cơ cấu kinh tế đó cho phép khai thác tối đa những ưu thế và những thuận lợi về các nguồn lực chung như: vị thế, đất đai, khí hậu, truyền thống và các tiềm năng vốn có về xã hội, lao động. Bảo đảm và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng và các thành phần kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế đó tạo được những điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển với số lượng và chủng loại sản phẩm đặc trưng, đa dạng, phong phú, đảm bảo tiêu dùng của dân cư và xuất khẩu. - Tạo tích luỹ tối ưu cho nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ việc phải tạo được khả năng tích luỹ cao ở những ngành, những vùng có nhiều lợi thế so sánh để chúng vừa có khả năng tự bù đắp cho mình, đồng thời có khả năng hỗ trợ cho các ngành, các vùng khác và góp phần làm tăng tích luỹ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến nhịp độ tăng trưởng và quy mô tăng trưởng kinh tế, tạo ra những tiền đề vật chất để phát huy có hiệu quả hơn nền kinh tế quốc dân. Đến lượt nó, sự tăng trưởng kinh tế do cơ cấu hợp lý là điều kiện cần thiết để phát triển hơn nữa trong tương lai.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, khai thác và phát huy những nguồn lực trong vùng, trong nước có hiệu quả. Luan van 16 Quá trình chuyển dịch là quá trình thay đổi cấu trúc hay cơ cấu các bộ phận của nền kinh tế mà chính những cấu thành này đang quyết định trạng thái và trình độ phát triển kinh tế của nền kinh tế đó hiện tại sang một cấu trúc khác tiến bộ hơn thúc đẩy phát triển. Những thay đổi đó tập trung nhất vào những mặt chính và phản ánh nội dung chuyển dịch cơ cấu. Một số yêu cầu khách quan khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế Để có được một cơ cấu kinh tế tối ưu thì nó phải đáp ứng được những yêu cầu sau: - Một là, phản ánh được và đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội; nhất là các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; những quy luật của kinh tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ; các quy luật của tái sản xuất như: quy luật năng suất lao động, quy luật tích luỹ, phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
- Hai là, đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của cả nước cho các phương án sản xuất kinh doanh. - Ba là, sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh giữa các nước, các vùng và các khu vực. Vai trò này gắn liền với việc hình thành “cơ cấu kinh tế mở”. Ở góc độ vĩ mô phải gắn với việc xây dựng chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất không hiệu quả, gắn với sự phân công lao động và thương mại quốc tế.
- Bốn là, phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu hướng quốc tế hoá và khu vực hoá. - Năm là, lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm thước đo kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế tối ưu. Tóm lại, quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người. Mặc dù có nhiều thay đổi trong quan niệm về tăng trưởng và phát triển nhưng chỉ tiêu Luan van 17 trên vẫn được coi trọng và làm thước đo cho sự phát triển về kinh tế.
Một xu hướng mang tính qui luật là cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng diễn ra một quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế tức là một sự thay đổi tương đối về vai trò mức đóng góp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế. Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế là cơ cấu ngành. Cơ cấu đó về phần mình lại được thể hiện trong quá trình sản xuất tiêu dùng và ngoại thương. Mối quan hệ giữa cơ cấu và sự phát triển kinh tế có vai trò rất quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về sự phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của nền kinh tế một cách tối ưu trong những thời điểm nhất định cho các ngành sản xuất khác nhau.
Cơ cấu ngành trong quan hệ ngoại thương cũng thể hiện lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong toàn cảnh nền kinh tế thế giới. Quá trình chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tất yếu gắn với sự phát triển kinh tế. Đồng thời nhịp độ phát triển, tính bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên ngoài và các lợi thế tương đối của một nền kinh tế. Một trong những đặc điểm rõ nét nhất của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển là việc tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội trong khi tỷ trọng của nông nghiệp lại giảm sút.
Tuy tất cả các nước đều có xu hướng chuyển dịch cơ cấu giống nhau nhưng tốc độ chuyển dịch lại hoàn toàn không giống nhau vì bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác. Quá trình chuyển dịch diễn ra như thế nào phụ thuộc vào các yếu tố như: quy mô kinh tế, dân số của quốc gia, các lợi thế về tự nhiên, nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hoá… Theo Tomich và Kilby, có hai nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, đó là quá trình chuyên môn hoá và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật. Quá trình chuyên môn hoá mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến và nâng cao năng suất lao động. Chuyên môn hoá cũng tạo nên những hoạt động dịch vụ, chế biến mới.
Điều đó làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm trong khi tỷ trọng của các ngành công nghiệp mới càng chiếm ưu thế. Luan van 18 Chuyển dịch cơ cấu tạo ra những tiền đề cho sự phát triển và hoàn thiện của các thị trường yếu tố sản xuất và ngược lại, việc hoàn thiện của các thị trường đó lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu. Hai thị trường về tài chính và lao động cũng có liên hệ chặt chẽ với quá trình chuyển dịch cơ cấu. Không thể có một chính sách chuyển dịch cơ cấu đáng kể nếu không có các chính sách hỗ trợ về vốn và nguồn lực con người.
Không có sự phát triển về nguồn lực thì quá trình chuyển dịch không thể bền vững cũng như thiếu vắng một thị trường tài chính sẽ không thể tạo ra sự di chuyển vốn giữa các ngành, không thể có tiền đề để sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hạn hẹp của xã hội. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và các hình thức của nó Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi các loại cơ cấu kinh tế nêu trên, kể cả những quan hệ cơ cấu về số lượng lẫn chất lượng. Đặc biệt, thời kỳ công nghiệp hoá với những đảo lộn cách mạng về phương thức sản xuất, cũng đồng thời là quá trình có sự thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trước hết là cơ cấu ngành kinh tế. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: một là, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc; và hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế thị trường (cơ chế kinh tế thị trường) càng củng cố và phát triển.
Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành (bao gồm tất cả các cấp độ phân ngành) phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội. Và trong thời kỳ công nghiệp hoá, nó phản ánh mức độ đạt được (kết quả) của quá trình công nghiệp hoá.