CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH 1. Khái quát về bản đồ địa chính 1. Khái niệm bản đồ địa chính Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên đó thể hiện chính xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng đất [5]. Trên bản đồ địa chính thể hiện các dạng đồ họa và ghi chú, phản ảnh những thông tin về vị trí, ý nghĩa, trạng thái pháp lý của các thửa đất, phản ánh các đặc điểm khác thuộc địa chính quốc gia.
Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và thống nhất trong cả nước. Chức năng của địa chính 1. Chức năng của địa chính Bản đồ địa chính là tư liệu cơ bản không thể thiếu cho các hoạt động nhận dạng, mô tả đặc điểm tự nhiên của đất đai. Bản đồ địa chính được cập nhật thường xuyên thể hiện chính xác vị trí, kích thước, diện tích, trong các đơn vị hành chính và các yếu tố địa lý có liên quan trong một hệ toạ độ thống nhất.
Bản đồ địa chính được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, đảm bảo cung cấp các thông tin không gian của đất đai cho công tác quản lý [5]. Việc cập nhật bản đồ địa chính được thực hiện theo các quy định và theo định kỳ. Chức năng tư liệu Địa chính là nguồn cung cấp tư liệu phong phú về nhà, đất, kinh tế, thuế,. Đó là các tư liệu dạng bản đồ, sơ đồ và các văn bản [5].
Tư liệu này phục vụ cho các cơ quan, tổ chức và người dân khi có nhu cầu. Các tư liệu được xây dựng, cập nhật khi có biến động trước khi cung cấp tư liệu. Chức năng pháp lý Chức năng cơ bản của địa chính là chức năng pháp lý. Sau khi có đủ tư liệu xác định hiện trạng và nguồn gốc đất đai, thông qua việc đăng ký và chứng nhận thì tư liệu địa chính có hiệu lực pháp lý và là cơ sở pháp lý về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai và bất động sản [5].
Chức năng pháp lý có tính đối vật và đối nhận. Chức năng định thuế Đây là chức năng nguyên thuỷ và cơ bản của địa chính. Trước hết là nhận dạng vị trí, ranh giới, sau đó là xác định nội dung, đánh giá, phân hạng, định giá nhà đất, xác định mức thuế, tính toán các khoản thuế [5]. Nội dung của bản đồ địa chính Các yếu tố nội dung chính thể hiện trên BĐĐC gồm [2],[3],[4]: - Khung bản đồ; - Điểm khống chế toạ độ, độ cao Quốc gia, điểm địa chính, điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định; - Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp; - Mốc giới quy hoạch; Chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông, thuỷ lợi, đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hành lang bảo vệ an toàn; - Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất; - Nhà ở và công trình xây dựng khác: Chỉ thể hiện trên bản đồ các công trình xây dựng chính phù hợp với mục đích sử dụng của thửa đất, trừ các công trình xây dựng tạm thời.
Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên BĐĐC phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình; - Các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất như đường giao thông, công trình thủy lợi, đê điều, sông, suối, kênh, rạch và các yếu tố chiếm đất khác theo tuyến; 5 - Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và ý nghĩa định hướng cao; - Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao (khi có yêu cầu thể hiện phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình); - Ghi chú thuyết minh. Khái quát về cơ sở dữ liệu địa chính 1. Các khái niệm - CSDL địa chính là một thành phần của CSDL đất đai Quốc gia, là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính. Bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính địa chính.
- Dữ liệu không gian địa chính là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình. - Dữ liệu thuộc tính địa chính là dữ liệu về người quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổ chức và cá nhân có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu thuộc tính về thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về tình trạng sử dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất [2],[3]. Mục đích Xây dựng CSDL quản lý đất đai nhằm thể hiện đầy đủ thông tin về thửa đất, người sử dụng đất luôn được cập nhật, đảm bảo tính công khai và minh 6 bạch. Toàn bộ hệ thống quản lý đất đai được vận hành trên cơ sở phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm quản lý chặt chẽ quỹ đất, phục vụ thật tốt người đang sử dụng hoặc có nhu cầu sử dụng đất, tạo mối quan hệ trực tiếp giữa cơ quan quản lý nhà nước và người dân trong xây dựng và thực thi pháp luật, trong quy hoạch và triển khai quy hoạch, trong thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và bảo vệ lợi ích của người sử dụng đất.
Xây dựng CSDL địa chính tạo điều kiện nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai, kết nối hệ thống thông tin đất đai của tỉnh vào mạng thông tin quản lý hành chính của tỉnh, mạng thông tin đất đai quốc gia và kết nối với các mạng thông tin chuyên ngành; là CSDL nền để xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống thông tin đất đai (LIS). Xây dựng hệ thống HSĐC và CSDL quản lý đất đai của một huyện, phường xã nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, khai thác có hiệu quả tài nguyên đất, làm cơ sở điều chỉnh khi có thay đổi hoặc lập, chia tách đơn vị hành chính mới. Ngoài ra việc xây dựng hệ thống HSĐC chính quy còn đáp ứng nhu cầu xây dựng CSDL thống nhất làm cơ sở tích hợp, tiến tới chuẩn hoá dữ liệu cho hệ thống thông tin đất đai từ huyện đến các xã, tạo điều kiện đưa công nghệ tin học vào lưu trữ, khai thác, quản lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cập nhật thông tin trong công tác địa chính ở các địa phương. Cơ sở khoa học xây dựng CSDL địa chính CSDL địa chính là hồ sơ địa chính được quản lý dưới dạng số sử dụng các phần mềm chuyên môn như GIS, MicroStation, TMV.LIS, VILIS,… CSDL địa chính chứa đựng thông tin đất đai và đồng thời thể hiện mối quan hệ của con người với thửa đất.
Trên thế giới, các nhà khoa học luôn luôn cố gắng tìm cách khái quát hoá các mô hình quản lý đất đai, từ đó đưa ra 7 một chuẩn mẫu về quản lý đất đai. Năm 1994, Hiệp hội Trắc địa thế giới (FIG) đã hoàn thành tài liệu Cadastral 2014 thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của một hệ thống địa chính hiện đại với tầm nhìn 20 năm và nó đã trở thành một sợi chỉ xuyên suốt trong các nghiên cứu có liên quan đến hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai. Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM Dựa trên tài liệu này, năm 2002, một nhóm học giả người Hà Lan đã đưa ra một mô hình CSDL địa chính có tên là CCDM [11], (hình 1. Mô hình này thể hiện mối quan hệ của con người (lớp Person) đối với thửa đất (lớp Register Object) thông qua các quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng đất (lớp RRR – Right, Responsibility, Restriction).
Đối tượng đăng ký là thửa đất hay bất động sản gắn liền với đất; con người là những người sử dụng, người 8 sở hữu bất động sản; quyền là quyền sử dụng đất và các quyền có liên quan. CCDM đã trở thành mô hình dữ liệu chuẩn để phát triển, chỉnh sửa cho phù hợp với hệ thống quản lý đất đai ở nhiều nước trên thế giới. Từ mô hình này, năm 2008, FIG và các nhà khoa học tiếp tục phát triển thành mô hình địa chính LADM và được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật,… LADM là một mô hình chuẩn hóa trong lĩnh vực đăng kí đất đai và hồ sơ địa chính. Mô hình địa chính LADM Về bản chất, mô hình LADM cũng vẫn thể hiện mối quan hệ giống như CCDM.
Tuy nhiên, các khái niệm về lớp đối tượng có sự mở rộng hơn. Đó là mối quan hệ giữa con người (lớp LA_Party) với đơn vị hành chính cơ bản (lớp LA_BAUnit) thông qua quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng. LADM là một mô hình rất linh hoạt. Do đó, phải căn cứ vào điều kiện và đặc điểm của mỗi nước để xây dựng mô hình CSDL địa chính phù hợp và có hiệu quả nhất cho quốc gia đó.
Một ý tưởng nữa của LADM là sử dụng CSDL thời gian trong thuộc tính của các đối tượng để quản lý thông tin về quá khứ của các đối tượng. Đối với mô hình CSDL địa chính, CSDL thời gian cho phép lưu trữ các trạng thái quá khứ của thửa đất và các đăng ký quyền sử dụng đất. Trong LADM, các đối 9 tượng mà có thuộc tính tmin (được hiểu là thời gian bắt đầu) và tmax (được hiểu là thời gian kết thúc) thì đều nằm trong lớp Versioned Objects nhằm mô tả dữ liệu quá khứ hay lịch sử của đối tượng.