phần Mở đầu và Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chiến lƣợc phát triển bền vững - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của IPA Quảng Ninh - Chƣơng 3: Các giải pháp chiến lƣợc phát triển bền vững Ban Xúc tiến và hỗ trợ đầu tƣ tỉnh Quảng Ninh 8 c CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Khái niệm về chiến lƣợc và chiến lƣợc phát triển bền vững của doanh nghiệp, tổ chức 1. Khái niệm chiến lược Chiến lƣợc là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, chỉ phƣơng cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh bằng những kế hoạch. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng có thể hiểu chiến lƣợc là chƣơng trình hành động, kế hoạch hành động đƣợc thiết kế để đạt đƣợc một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đƣờng đạt đến các mục tiêu đó.
Chiến lƣợc liên quan đến các định hƣớng lớn, tạo ra những kết quả to lớn tại những khu vực quan trọng và then chốt trong dài hạn, có sự tích lũy kế thừa, mà kết quả này chỉ có thể có đƣợc từ hoạt động nhất quán, tập trung. Sự nhất quán và tập trung là cần thiết, vì nguồn lực không phải là vô hạn. Nhƣ vậy, chiến lƣợc thể hiện rõ sự ƣu tiên. Nếu cùng làm tất cả những điều "quan trọng" thì đó không phải là chiến lƣợc với đúng ý nghĩa của nó.
Chiến lƣợc cũng mang ý nghĩa "bức tranh lớn" tổng quan, trong đó các thành phần tạo ra giá trị tổng hợp lớn hơn giá trị của từng thành phần riêng lẻ. Xây dựng tiềm lực thành công là mục đích chính của chiến lƣợc. Điều này có nghĩa là thành công không phải là điều chắc chắn khi thực hiện một chiến lƣợc, mà chỉ là có khả năng thành công cao hơn mà thôi. Tiềm lực thành công không chỉ là những nguồn lực vật chất mà còn là những tiền đề ý thức (ví dụ nhƣ kiến thức hiểu biết, văn minh chung, văn hóa chung, sự đoàn kết cùng hƣớng về một mục đích, v.
Joseph Caldwell Wylie (trong Chiến lược quân sự, Lý thuyết về kiểm soát quyền lực (Military Strategy, A Theory of Power Control, 1989) đã định 1 c nghĩa chiến lƣợc là: Một kế hoạch hành động đƣợc thiết kế để đạt đƣợc một số kết thúc; một mục đích cùng với một hệ thống các biện pháp để hoàn thành nó. Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lƣợc bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Glueck: “Chiến lƣợc là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, đƣợc thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ đƣợc thực hiện”. Porter (1996) cho rằng “Chiến lƣợc là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
Theo cách tiếp cận này, chiến lƣợc là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chƣa đƣợc làm, bản chất của chiến lƣợc là xây dựng đƣợc lợi thế cạnh tranh. David thì định nghĩa: Chiến lược là kế hoạch phối hợp các mục tiêu chủ yếu, các chính sách và hành động của đơn vị thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Có thể thấy, chiến lƣợc là những định hƣớng một cách bài bản cho những bƣớc đi của tổ chức từ hiện tại hƣớng tới tƣơng lai, ở đó tổ chức phải giành đƣợc lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trƣờng nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trƣờng và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức. Các định hƣớng này giúp tổ chức đó định hình đƣợc con đƣờng đi của mình, từng bƣớc tích lũy các nguồn lực và sử dụng một cách tập trung các nguồn lực đó một cách tối ƣu.
Theo tác giả Hoàng Đình Phi (1): đối với bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào thì "Chiến lƣợc là một tài liệu, có thể viết tay, in máy hay điện tử, trong đó những ngƣời có trách nhiệm đề ra sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và các mục tiêu dài hạn cho một tổ chức, thông thƣờng là trong 5 năm, cũng nhƣ xác định các nguồn lực cần huy động và các giải pháp cần thực hiện để 2 c đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra". Chiến lƣợc đƣợc phân loại theo 4 loại hình khác nhau, gồm: - Theo tầm quan trọng hay theo cách tiếp cận từ trên xuống ở cấp độ quốc gia (Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các địa phƣơng); - Theo ngành kinh tế; - Theo cấu trúc doanh nghiệp; - Theo các mục tiêu chiến lƣợc khác nhau của doanh nghiệp. Đây là lý luận khoa học cơ bản đƣợc tác giả áp dụng trong quá trình thực hiện các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn cũng nhƣ áp dụng trong thực tiễn công việc của tác giả tại IPA Quảng Ninh. Chiến lƣợc phát triển bền vững của doanh nghiệp và tổ chức Cũng theo tác giả Hoàng Đình Phi thì tùy theo quy mô và ngành nghề kinh doanh, một doanh nghiệp có thể có nhiều loại chiến lƣợc theo các cấp độ khác nhau nhƣ: chiến lƣợc phát triển tổng thể doanh nghiệp cho mỗi giai đoạn, thƣờng là 5 năm hay 10 năm, chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, chiến lƣợc tài chính, chiến lƣợc công nghệ, chiến lƣợc sản xuất, chiến lƣợc marketing, chiến lƣợc bán hàng, chiến lƣợc văn hóa… Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng và thực thi các chiến lƣợc là để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển và duy trì khả năng cạnh tranh.
Một tổ chức kế cả hành chính, công lập hay đơn vị hành chính sự nghiệp có thu thì cũng cần phải có các chiến lƣợc để phát triển theo các giai đoạn làm mục tiêu phấn đấu cho tất cả các thành viên trong tổ chức. Nhƣ vậy, một chiến lƣợc đầy đủ của một tổ chức thƣờng có đủ 6 yếu tố nội hàm, gồm: - Sứ mệnh - Tầm nhìn - Giá trị cốt lõi - Mục tiêu, chiến lƣợc dài hạn 3 c - Các nguồn lực - Các giải pháp thực hiện. Trong thời gian gần đây, phát triển bền vững không chỉ là mối quan tâm của các nhà chính trị, nhà hoạt động môi trƣờng mà còn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp (DN), tổ chức. Ở cấp độ quốc tế, đa số các quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện các cam kết đã ký trong Chƣơng trình Nghị sự 21 của Liên hợp quốc bằng việc cụ thể hóa các mục tiêu trong việc xây dựng và thực thi các chiến lƣợc phát triển bền vững ở tẩm quốc gia.
Chính phủ Việt Nam cũng đã phê duyệt Chiến lƣợc phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của phát triển bền vững, các nhà quản trị doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm và thực thia các yếu tố bền vững vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh nhƣ một phần của kế hoạch chiến lƣợc phát triển dài hạn. Một chiến lƣợc dài hạn từ 5 - 10 - 50 năm và lâu hơn bao giờ cũng thể hiện tính bền vững trong hành trình phát triển của bất kỳ tổ chức hay DN nào. Đối với doanh nghiệp, phát triển bền vững đƣợc hiểu là việc thực thi các chiến lƣợc và hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của DN và các đối tác tại thời điểm hiện tại mà vẫn có thể duy trì và củng cố các nguồn lực sản xuất và kinh doanh (tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, tài chính.) để đáp ứng cho nhu cầu trong tƣơng lai của doanh nghiệp.
Từ đó, có thể thấy chiến lược phát triển bền vững giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp áp dụng các giải pháp phát triển bền vững vào quá trình quản trị DN. Khả năng cạnh tranh bền vững của DN nhấn mạnh vào tầm quan trọng của hiệu quả sản xuất và/hoặc kinh doanh của DN nhƣ một yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển cũng nhƣ sự tăng trƣởng dài hạn của doanh nghiệp. Có nhiều cách thức định nghĩa khả năng cạnh tranh của DN: Là khả năng DNcó thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của sản phẩm trên thị trƣờng (Fafchamps M., 1995); là khả năng giành đƣợc 4 c và duy trì thị phần trên thị trƣờng với lợi nhuận nhất định (Randall G., 1997); là khả năng cung ứng sản phẩm của chính DN trên thị trƣờng mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của DN (John Dunning, 1995). Nhìn chung, khả năng cạnh tranh là khả năng mà DN có đƣợc và duy trì để có đƣợc lợi nhuận nhất định thông qua việc huy động và sử dụng có hiệu quả các năng lực cạnh tranh của DN đó.
Mỗi doanh nghiệp có một năng lực, lợi thế cạnh tranh so với đối thủ trong việc thỏa mãn yêu cầu của thị trƣờng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Suy rộng ra, khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp đƣợc duy trì nhằm đảm bảo việc khai thác các lợi thế phát triển dài hạn của DN. Nhiều tổ chức và DN không thể tồn tại và phát triển lâu dài đƣợc vì có nhiều yếu kém về năng lực hay khả năng cạnh tranh xét theo 17 yếu tố khác nhau từ các năng lực cơ bản đến năng suất, hiệu quả, thƣơng hiệu, lợi nhuận, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng… căn cứ theo hình tháp về khả năng cạnh tranh bền vững theo hình dƣới đây: Hình 1.1: Hình tháp khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Nguồn: Hoàng Đình Phi, 2015 Khả năng cạnh tranh bền vững của một tổ chức có một số điểm khác 5 c với khả năng cạnh tranh của một DNcăn cứ theo địa vị pháp lý, sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức. Thông thƣờng quốc tế chia các tổ chức chính trị - xã hội thành các tổ chức chính phủ (GO: Governmental Organization) và các tổ chức phi chính phủ (NGO: Non-Governmental Organization).
Các tổ chức phi chính phủ có thể hoạt động vì lợi nhuận, phi lợi nhuận hay dạng DN xã hội. Còn các tổ chức chính phủ phải hoạt động theo các luật quy định về bộ máy tổ chức nhà nƣớc và xã hội của mỗi quốc gia.