CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THỊ THỰC (VISA) ĐỐI VỚI KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 1. Những khái niệm chung về thị thực (Visa) 1. Khái niệm về thị thực - Thị thực xuất hiện từ khi có Nhà nước, khi có sự trao đổi hàng hóa giữa các nước, đặc biệt là khi có sự bang giao giữa các quốc gia với nhau. Trên thế giới từ xưa đến nay có nhiều khái niệm về thị thực, tuy nhiên có một số khái niệm đáng lưu ý sau: - Ở Trung Quốc, thị thực xuất hiện khi Huyền Trang khởi hành Tây du vào tháng Tám năm Trinh Quán Nguyên niên, thời vua Đường Thái Tông (Năm 627), khi Huyền Trang dâng biểu để Tây du, Nhà vua “xác nhận” vào biểu tấu và cho phép Huyền Trang được phép đi lại trong lãnh thổ Đại Đường.
Sự “xác nhận” ở đây được hiểu là sự cho phép, là thị thực “Trích Đại Đường Tây vực ký (Bút ký Đường Tăng) / Trần Huyền Trang; Lê Sơn d; Nhuế Truyền Minh chú giải, NXB Phương Đông, TP. - Ở Việt Nam, thị thực xuất hiện từ thời Nhà Lê, thị thực được gọi là giấy thông hành là loại giấy chứng nhận cho binh lính, quan lại hoặc dân thường do cơ quan có thẩm quyền cấp cho đương sự khi đi công tác hoặc đi buôn bán, trên đường đi hoặc đến nơi cư trú nếu nhà chức trách xét hỏi thì xuất trình để làm bằng chứng. Toàn thư chép: Tháng 9 năm Giáp dần (1434), Lê Thái Tông đã ra lệnh cho các trấn, huyện, xã, thôn, sách, trang rằng: “Khi có người tới Kinh làm việc, nếu là quân thì phải có tướng hiệu, là dân thì phải có quan lộ, huyện chuyển đưa lên. Nếu là các quan đi việc công hay tư thì lấy giấy tờ của huyện mình.
Còn quân nhân ở Kinh và người nhà của đại thần, thế gia nếu có lĩnh giấy sai đi làm việc gì thì tổng quản, tổng tri nha ấy hay nhà ấy cấp giấy tờ. Quân hay dân đi buôn bán cũng phải xin giấy thông hành của quan lộ, huyện. Tuần kiểm các trấn và người kiểm soát các nơi dọc đường thuỷ, đường bộ cần phải ngăn lại không cho đi.” Dưới triều Lê, giấy thông hành được cấp một cách phổ biến (Trích trong: Văn bản quản lý nhà nước và công tác công văn, giấy tờ thời phong kiến VN/PGS Vương Đình Quyền, nơi XB Hà Nội, nhà XB Chính trị quốc gia 2002). 4 - Theo khái niệm của Nghị định ngày 21/12/1911 của Thống đốc Toàn quyền Đông Dương: Các hồ sơ giấy tờ, cần phải trình ngoài xứ Đông Dương cho các chức trách hành chánh hay chức trách tư pháp, được ký chứng nhận thị thực.
“… Arrêté du 21 décembre 1911 du Gouverneur général de l'Indochine désignant les autorités chargées de légaliser les pièces destinées à être produites hors de l'Indochine, soit devant l'autorité administrative, soit devant l'autorité judiciaire…” (Journal officiel de l''Indochine française, Ngày 25/12/191 - Số 103, tr.) - Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - Viện ngôn ngữ học/Từ điển tiếng Việt 1994), đưa ra khái niệm: Thị thực là dấu thị thực của cơ quan đại diện của một nước ngoài đóng trên một hộ chiếu, cho phép người mang hộ chiếu vào, đi qua hoặc rời khỏi nước đó. - Theo khái niệm của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: Thị thực là sự xác nhận hoặc ghi nhận của việc đồng ý trên hộ chiếu hợp pháp và có giá trị hoặc giấy tờ đi lại của người nước ngoài hoặc công dân của nước mình, thị thực được cấp bởi Văn phòng đại diện, Đại sứ quán, Lãnh sự quán của một chính phủ chính thức ở nước ngoài. Đó là một điều kiện hợp pháp cần thiết, thể hiện rằng bạn đã được phép nhập cảnh, xuất cảnh qua biên giới quốc gia đó, nói cách khác thị thực là một sự xác nhận bằng chứng nhập cảnh hợp pháp. “ A Visa is the remark, annotation or seal of approval on a legal and valid passport or other travel credentials of a foreign or domestic citizen, which is issued by the international representative of a sovereign government, an Embassy or Consulate.
It is a necessary legal requirement indicating that you are permitted to enter and exit that country's frontier, also we may say, the visa is an annotating-like proof of legal entry.” - Theo Bộ Nội vụ Malaysia (Malaysia Ministry of Home Affairs): Thị thực là sự xác nhận trong hộ chiếu hoặc giấy tờ đi lại khác được công nhận của nước ngoài, thể hiện rằng người này đã nộp đơn xin phép nhập cảnh Malaysia và sự cho phép đã được chấp thuận (A visa is an endorsement in a passport or other recognized travel document of foreigner indicating that the holder has applied for permission to enter Malaysia and that permission has been granted). 5 - Theo khái niệm của từ điển tiếng Anh Oxford advanced, xuất bản tại Oxford năm 2005: Thị thực là một cái mộc hoặc một cái dấu hiệu do nhân viên đại diện của một nước ngoài đánh trên passport cho phép người có hộ chiếu vào, đi qua hoặc rời khỏi nước đó. - Theo khái niệm của World book (Bách khoa toàn thư và từ điển) xuất bản tại Chicago năm 2001: Thị thực là một sự chấp thuận mà nhân viên đại diện nhà nước đặt trên hộ chiếu để cho thấy rằng hộ chiếu này còn hiệu lực. Những người đại diện của quốc gia mà khách du lịch sẽ đến sẽ cấp thị thực.
Thị thực chứng nhận rằng hộ chiếu của khách du lịch đã được kiểm tra và được chứng thực. Nhân viên làm thủ tục di trú sau đó sẽ cho phép người cầm visa vào quốc gia của mình. Nếu chính phủ của một nước không muốn cho một người nào đó vào nước mình có thể từ chối cấp visa cho người đó. Như vậy, từ thời xa xưa đã có thị thực với nhiều tên gọi khác nhau nhưng khái quát nhất: Thị thực là sự xác nhận và cho phép của một quốc gia có chủ quyền trên hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế hộ chiếu có giá trị đối với một công dân của một nước khác được phép nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh vào quốc gia đó.
Bản chất và chức năng của thị thực 1. Bản chất của thị thực Ngày nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng trong thời kỳ toàn cầu hóa. Các quốc gia trên thế giới ngày càng có quan hệ tùy thuộc lẫn nhau nhiều hơn. Vì vậy, bản chất của thị thực không chỉ duy nhất là biểu hiện thái độ chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Bản chất của thị thực hiện nay là: Sự biểu hiện ứng xử và quan hệ quốc gia giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền. Thị thực, thể hiện tính chất, mức độ trong quan hệ ngoại giao, kinh tế và an ninh của quốc gia này đối với quốc gia khác. Chức năng của thị thực Thị thực có vai trò quan trọng, trong quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa quốc tế và đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia giữa các quốc gia trên thế giới. Chức năng chung của thị thực là: Một phương cách phù hợp được lựa chọn bởi Nhà nước cầm quyền.
Nhà cầm quyền chọn phương cách phù hợp để duy trì an ninh, đối ngoại, chủ quyền quốc gia, sự tôn nghiêm và bảo vệ quốc gia đó. 6 - Về ngoại giao, theo luật quốc tế người mang hộ chiếu ngoại giao có thị thực trong hộ chiếu đó được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao. Tuy nhiên, trong quan hệ ngoại giao quốc tế cũng có những trường hợp, khách mời của một quốc gia sử dụng hộ chiếu công vụ hoặc hộ chiếu phổ thông được cấp thị thực ngoại giao (Diplomatic visa), thì người đó cũng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao. - Trong việc đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia, thị thực được cấp là sự cho phép, chấp thuận của một quốc gia có chủ quyền, ở mức độ rộng rãi hay hạn chế đối với công dân của một quốc gia khác xuất nhập cảnh nước mình với bất cứ mục đích gì đều phải được xem xét từ góc độ đảm bảo chủ quyền và an ninh quốc gia.
- Thị thực góp phần quan trọng phát triển kinh tế của một quốc gia. Thị thực dễ dàng, thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư, chuyển giao công nghệ quốc tế.đặc biệt là thu hút khách du lịch quốc tế. Phân loại thị thực và nội dung của thị thực 1. Phân loại thị thực theo hình thức Trên thế giới hiện nay, thị thực có hai hình thức chính là: - Thị thực được cấp dán trong hộ chiếu.
- Thị thực được cấp rời (không cấp dán vào hộ chiếu). Phân loại thị thực theo thời gian Nhìn chung các quốc gia trên thế giới, căn cứ vào thời gian, mục đích chuyến đi của du khách, ngắn hay dài, đi lại một lần hay nhiều lần, đã phân thị thực thành 03 loại cơ bản sau: - Thị thực một lần (Single Entry Visa). - Thị thực nhiều lần (Multiple Entry Visa). - Thị thực quá cảnh (Transit Visa).
Phân loại thị thực theo mục đích chuyến đi. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới phân chia thị thực thành nhiều loại khác nhau dựa trên cơ sở mục đích nhập xuất cảnh khác nhau của du khách quốc tế. Nhiều loại thị thực như: Thị thực ngoại giao, thị thực công vụ, thị thực thương mại, lao động, nhập cư, du lịch… Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xuất phát từ 03 loại thị thực chính là thị thực ngoại giao, thị thực công vụ và thị thực thường. Trong đó đối với thị thực thường, tùy theo từng nước, thị thực được phân 7 loại khác nhau, có ký hiệu riêng.
Những quốc gia phát triển thì thị thực được phân chia, chi tiết, cụ thể và phức tạp hơn. Sau đây là một số loại thị thực thường ở một số quốc gia trên thế giới: Mỹ: Hiện nay, ngoài các loại thị thực ngoại giao, công vụ và thị thực định cư, còn có thị thực không định cư (Non-Immgrant Visas). Thị thực không định cư được chia nhỏ thành 11 loại chính, theo các ký hiệu sau: - Tourist/Business visa(B1/B2): Thị thực du lịch/ thương mại. - Maid/servant visa(B1): Thị thực cấp cho người làm thuê, giúp việc nhà, xuất khẩu lao động.
- Student visa(F or M): Thị thực du học. - Exchange Program visa(J): Thị thực chương trình trao đổi văn hóa… - Temporary Workervisa (H): Thị thực lao động có thời hạn. - USSFTA Temporary Worker (H1B1): Thị thực mậu dịch tự do. - Intra-company Transfer (L): Thị thực cấp cho người nước ngoài trong một tiểu bang, một thành phố nhất định.
- Treaty Trader/Investor visa (E): Thị thực hợp tác thương mại, đầu tư. - Journalist visa (I): Thị thực báo chí. - Transit visa(C1): Thị thực quá cảnh.