chương 1 ngay sau đây. Một số nội dung về cán cân thương mại hàng hóa 1. Các khái niệm có liên quan 1. Xuất khẩu hàng hóa Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế của IMF, xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hóa cho nước ngoài 1.
Hay theo tự điển quốc tế, xuất khẩu hàng hóa là việc di chuyển hàng hoá sang nước khác để buôn bán, trao đổi 2 Theo điều 28, mục 1, chương 2 Luật Thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Kim ngạch xuất khẩu (trị giá xuất khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ thu được sau khi bán hàng xuất khẩu cho khách hàng nước ngoài. Thường kim ngạch xuất khẩu được tính trong vòng 1 năm. 1 [36] – link truy cập http://vi.org/wiki/Xuất_khẩu_hàng_hóa cập nhật ngày 14/08/2010 2 [41] – link truy cập http://dictionary.com/browse/export cập nhật ngày 14/08/2010- tác giả dịch sang tiếng Việt.
Nhập khẩu hàng hóa Theo điều 28, mục 2, chương 2 Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Kim ngạch nhập khẩu (trị giá nhập khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ mất đi sau khi mua hàng nhập khẩu từ phía nước ngoài của người dân trong nước. Cũng giống như kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu thường được tính trong vòng 1 năm. Cán cân thương mại hàng hóa Xét về định nghĩa, thì cán cân thương mại hàng hoá 3 là mức chênh lệch giữa trị giá xuất khẩu hàng hoá và trị giá nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nước trong một thời kỳ nhất định.
Thông thường, trong cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam, trị giá xuất khẩu được tính theo giá FOB 4, trị giá nhập khẩu được tính theo giá CIF 5. Còn theo cách tính của IMF, trị giá xuất khẩu lẫn nhập khẩu đều được tính theo giá FOB. Chính vì vậy mà khi so sánh số liệu giữa Tổng cục Thống kê Việt Nam và IMF công bố, sẽ có một chút chênh lệch. Khi cán cân thương mại hàng hóa > 0: cán cân thương mại hàng hóa thặng dư hay còn gọi là xuất siêu.
Khi cán cân thương mại hàng hóa < 0: cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt hay còn gọi là nhập siêu. Khi cán cân thương mại hàng hóa = 0: cán cân thương mại hàng hóa ở trạng thái cân bằng. 3 [24] – “Niên giám thống kê 2008” (2009), Nxb Thống Kê, Hà Nội - trang 420 4 Giá FOB là giá giao hàng tại biên giới nước xuất khẩu, bao gồm giá của bản thân hàng hoá, chi phí đưa hàng đến địa điểm xuất khẩu và chi phí bốc hàng lên phương tiện chuyên chở. 5 Giá CIF là giá giao hàng tại biên giới nước nhập khẩu, bao gồm giá của bản thân hàng hoá, chi phí bảo hiểm và chi phí vận chuyển hàng hoá tới địa điểm nhập khẩu nhưng không bao gồm chi phí dỡ hàng từ phương tiện chuyên chở.
Các yếu tố tác động đến cán cân thương mại hàng hóa Do cán cân thương mại hàng h óa sẽ ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế quốc gia, nên việc tìm hiểu những yếu tố tác động đến cán cân thương mại hàng hóa là rất quan trọng. Có nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng như: tỷ giá hối đoái, lạm phát, giá cả hàng hóa, thu nhập trong nước GDP, chính sách thương mại quốc tế, luồng vốn đầu tư quốc tế v. Sau đây, tác giả sẽ lần lượt trình bày những tác động của một số yếu tố chính đến cán cân thương mại hàng hóa dựa trên nguyên tắc cetaris paribus, nghĩa là khi nghiên cứu tác động của một nhân tố, thì sẽ cố định các nhân tố khác – [19]. Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) Có nhiều khái niệm về TGHĐ.
Nhưng nhìn chung, TGHĐ được định nghĩa là: - là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác - [23], trang 410. - là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác - [1], trang 203. Nhưng nhìn chung, đó là mức giá mà tại đó, hai đồng tiền chuyển đổi được cho nhau. Ví dụ 1 USD = 19000 VNĐ.
Có 02 phương pháp thể hiện TGHĐ (hay còn gọi là yết giá): Phương pháp 1: Lấy đồng nội tệ làm chuẩn: theo đó TGHĐ là lượng đơn vị ngoại tệ cần có để đổi lấy một đơn vị nội tệ: e = số lượng đơn vị ngoại tệ / 1 đơn vị nội tệ VD: e = 0.0000625USD / 1VND Cách này thường sử dụng cho các quốc gia có nền kinh tế vững chắc, đồng tiền mạnh và khả năng chuyển đổi lớn trên thế giới như đồng USD, Euro, Bảng Anh. Và khi thể hiện TGHĐ theo cách này, nếu TGHĐ tăng, tức một đồng nội tệ đổi được nhiều ngoại tệ hơn, thì ta nói đồng nội tệ tăng giá. Phương pháp 2: Lấy đồng ngoại tệ làm chuẩn: theo đó, TGHĐ là lượng nội tệ cần có để đổi lấy 1 đơn vị ngoại tệ: E = số lượng đơn vị nội tệ / 1 đơn vị ngoại tệ 4 VD: E = 16000 VND / 1USD Khi TGHĐ được thể hiện theo cách 2 tăng, tức ta cần phải sử dụng nhiều nội tệ hơn để đổi lấy một đồng ngoại tệ, thì có nghĩa là đồng nội tệ bị mất giá và ngược lại. Và Việt Nam sử dụng phương pháp thể hiện này6.
Trong nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thương mại quốc tế. Khi TGHĐ thay đổi, thì giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của quốc gia thay đổi, ảnh hưởng lên cán cân thương mại của quốc gia đó. Ví dụ 1: một lô hàng xuất khẩu của Việt Nam có trị giá là 1 5 tỷ đồng, vào thời điểm (t): E1 = 15000VNĐ/USD thì lô hàng này trên thế giới được bán với giá 1 triệu USD. Nhưng ếu n tại thời điểm (t+1), VNĐ mất giá, TGH Đ tăng lên E2 = 20000VNĐ/USD thì giá bán trên thế giới của lô hàng trên giảm xuống còn 750.000 USD, và phía nước ngoài sẽ thấy hàng xuất khẩu từ Việt Nam trở nên rẻ hơn.
Ví dụ 2: một lô hàng nhập khẩu vào Việt Nam có trị giá là 1 triệu USD, vào thời điểm (t): E1 = 15000VNĐ/USD thì để nhập lô hàng này, người dân Việt Nam phải trả 15 tỷ đồng. Nhưng nếu tại thời điểm (t+1), VNĐ mất giá, TGHĐ tăng lên E 2 = 20000VNĐ/USD thì để trả cho lô hàng trên, người dân Việt Nam sẽ phải trả đến 20 tỷ đồng, tức hàng nhập khẩu trở nên mắc hơn trước. Từ các ví dụ trên, ta có một kết luận quan trọng: Do TGHĐ của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam (lấy đồng ngoại tệ làm chuẩn) nên khi TGHĐ tăng, nội tệ mất giá, sẽ dẫn đến hàng xuất khẩu của Việt Nam trở nên rẻ hơn, cầu về hàng xuất khẩu tăng, còn hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, cầu về hàng nhập khẩu giảm, giúp cán cân thương mại hàng hóa có khuynh hướng thặng dư (hoặc giảm thâm hụt). Đây là một kết luận quan trọng, làm cơ sở cho các giải pháp liên quan đến tỷ giá hối đoái để cải thiện cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam.
Lạm phát Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian – [1]. Khi xảy ra lạm phát, mức giá chung của nền kinh tế tăng theo thời gian, làm xói mòn đi giá trị của đồng nội tệ. Nếu như TGHĐ chính thức không thay đổi, lạm phát sẽ khiến cho người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước có khuynh hướng mua hàng nhiều hơn từ nước ngoài vì hàng nước ngoài trở nên rẻ hơn tương đối so với hàng trong nước, làm nhập khẩu tăng. Và ngược lại, lượng hàng xuất khẩu sang các quốc gia khác giảm xuống.
Kết quả là cán cân thương mại hàng hóa có khuynh hướng thâm hụt. Đầu tư nước ngoài Khi nhắc đến đầu tư nước ngoài, người ta thường nói đến 03 kênh chính sau: - Đầu tư trực tiếp của nước ngoài – gọi tắt là FDI - Đầu tư gián tiếp của nước ngoài – gọi tắt là FPI - Hỗ trợ phát triển chính thức của Chính phủ và tổ chức quốc tế - ODA Cả 03 nguồn vốn đầu tư nước ngoài này đều có những tác động nhất định đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, từ đó tác động đến cán cân thương mại hàng hóa của một quốc gia, chẳng hạn: Với nguồn vốn FDI: thông thường chủ đầu tư nước ngoài quyết định hoạt động đầu tư lâu dài tại quốc gia khác vì 03 động cơ chính sau – [4], trang 21: o Đầu tư định hướng thị trường: để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ tại nước sở tại nhằm vượt qua hàng rào bảo hộ và kéo dài vòng đời sản phẩm. o Đầu tư định hướng chi phí: để tận dụng nguồn lao động và tài nguyên rẻ của nước tiếp nhận đầu tư. Hình thức này đặc biệt thích hợp cho những ngành sử dụng nhiều lao động, thiết bị lạc hậu và hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường cao.
o Đầu tư định hướng nguồn nguyên liệu: mục tiêu là khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ của nước sở tại rồi cung cấp cho công ty mẹ. Đó có thể là tài 6 nguyên khoáng sản, hay các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp. Doanh nghiệp FDI sẽ xuất thẳng hàng thô hoặc sơ chế về nước chính quốc để chế biến sản phẩm thành phẩm. Nhìn chung, cho dù hoạt động FDI thực hiện theo định hướng nào thì đều cần phải nhập khẩu một lượng lớn máy móc, trang thiết bị phục vụ cho việc xây dựng nhà máy và hoạt động sản xuất hàng hóa.
Ngoài ra, tùy mỗi định hướng đầu tư mà sẽ ảnh hưởng thêm đến hoạt động xuất nhập khẩu, ví dụ: đầu tư định hướng chi phí thì phải nhập khẩu thêm nguyên vật liệu sản xuất, và sau đó sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm thành phẩm hoặc sơ chế về nước chính quốc. Định hướng nguyên liệu thì sẽ làm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng thô và sơ chế.