MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Từ khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, quan hệ hữu nghị và hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và ASEAN không ngừng được mở rộng. ASEAN luôn giữ vị trí là một trong những thị trường quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Trong giai đoạn 2015-2020, thương mại giữa Việt Nam và ASEAN tiếp tục phát triển.
Kim ngạch hai chiều tăng từ 42,1 tỷ USD năm 2015 lên 57,6 tỷ USD năm 2019 và 53,6 tỷ USD năm 2020. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Trung Quốc, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thương mại Việt Nam - ASEAN có xu hướng tăng trưởng chậm lại. Trong khi đó, quy mô nhập siêu với ASEAN tiếp tục mở rộng.
Tỷ trọng của thị trường ASEAN trong tổng giá trị trao đổi thương mại của Việt Nam với thế giới có xu hướng giảm sút và hiện chỉ chiếm khoảng 10%. Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, cơ cấu thương mại Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn 2015 – 2020 cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN vẫn còn mất cân đối lớn, cán cân thương mại của Việt Nam với ASEAN chưa được cải thiện, nhập siêu từ ASEAN vẫn còn lớn (năm 2015 nhập siêu 5.554 triệu USD, năm 2020 nhập siêu 7. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN vẫn phụ thuộc lớn vào một số ít mặt hàng xuất khẩu chủ lực như điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, dệt may… Số lượng mặt hàng thực sự có lợi thế cạnh tranh tại thị trường Đông Nam Á (ĐNA) còn hạn chế.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trường ASEAN dịch chuyển chậm, chưa hướng mạnh vào xuất khẩu hàng hóa chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao, chưa phát huy được tiềm năng xuất khẩu của các mặt hàng do khu vực có vốn trong nước sản xuất như da giày, đồ gỗ, dây và cáp điện, vải kỹ thuật, sản phẩm nhựa, sản phẩm cao su, thiết bị điện, chất tẩy rửa, gạch men, sản phẩm từ thủy tinh, thực phẩm chế biến, sữa và sản phẩm sữa… Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu từ ASEAN, các mặt hàng không nhất thiết nhập khẩu, hoặc nên hạn chế nhập khẩu như các sản phẩm điện, sắt thép, giấy, sản phẩm nhựa, chất tẩy rửa, đường mía. vẫn còn chiếm tỷ trọng đáng kể. Những bất cập, hạn chế trong cơ cấu thương mại của Việt Nam với ASEAN trong giai đoạn 2015-2020 cho thấy, Việt Nam vẫn chưa khai thác hiệu quả nhu cầu thị trường ASEAN trên cơ sở phát huy lợi thế của mình.
luan an 2 Với quy mô nền kinh tế hơn 3.000 tỷ USD, dân số hơn 670 triệu người và có quá trình hội nhập, liên kết kinh tế nội khối cũng như giữa ASEAN và các nền kinh tế đối tác đang có những bước tiến lớn, ASEAN được đánh giá là thị trường có quy mô lớn, có nhiều triển vọng phát triển, có sức hút lớn đối với nhiều đối tác trên thế giới. Thị trường ASEAN không khó tính như các thị trường Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, rất phù hợp với nhiều chủng loại hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Tính đến nay, ASEAN vẫn là thị trường có mức độ cam kết tự do hóa thương mại ở mức cao nhất trong các FTA Việt Nam tham gia. Hướng tới mục tiêu xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất đơn nhất, tính đến năm 2018, các quốc gia ASEAN đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 98,6% số dòng thuế, trong đó các nước ASEAN-6 đã xóa bỏ 99,3% dòng thuế, các nước CLMV đã xóa bỏ 97,7% dòng thuế.
Thực hiện Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đến năm 2025, về thương mại hàng hóa, ASEAN sẽ tiếp tục cắt giảm hoặc xóa bỏ các rào cản tại biên giới và sau đường biên giới gây cản trở thương mại, nhằm tạo sự lưu chuyển cạnh tranh, hiệu quả và tự do của hàng hóa trong khu vực. Khi các mục tiêu của AEC được hoàn tất, AEC sẽ tiếp tục mang lại những cơ hội lớn cho nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển KTXH. Liên tiếp trong 4 năm, từ 2016-2019, Việt Nam đứng trong tốp 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất.
Năng lực sản xuất và xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ. Từ 2016 đến nay, cán cân thương mại liên tục thặng dư, các kỷ lục xuất siêu liên tiếp được thiết lập. Năm 2019, lần đầu tiên thương mại Việt Nam cán mốc 500 tỷ USD. Năm 2021, Việt Nam nằm trong số 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.
Một số mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam luôn đứng trong tốp đầu của thế giới. Nhiều mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam có chất lượng tốt và có thể cạnh tranh ngang ngửa với các sản phẩm cùng loại của ASEAN. Trong nhiều năm qua, ASEAN cũng là đối tác dành được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các cơ quan quản lý, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Lãnh đạo cấp cao của Việt Nam và các quốc gia ASEAN như Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma- lai-xi-a, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma đã đặt ra các mục tiêu cao cho thương mại song phương.
Tận dụng, khai thác hiệu quả các thị trường có FTA, trong đó có AEC đang là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác phát triển thị trường ngoài nước. Trước tình hình luan an 3 xuất khẩu sang thị trường ASEAN những năm gần đây có dấu hiệu chững lại, việc hoàn thành mục tiêu về phát triển thương mại song phương với các nước ASEAN như các nhà Lãnh đạo cấp cao đã đặt ra là thách thức không nhỏ. Trước bối cảnh, tình hình mới, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội lớn cũng như thách thức không nhỏ trong việc tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN, là những nước gần gũi về địa lý, tập quán, văn hoá, là thị trường truyền thống quen thuộc. Đó là những cơ hội lớn đặt ra trong việc ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để nâng cao trình độ sản xuất, cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu đã hoặc đang hình thành mới ở khu vực, cơ hội tiếp nhận, đón đầu luồng vốn đầu tư dịch chuyển từ Trung Quốc và các nước Đông Bắc Á vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo, cơ hội khai thác kết quả tự do hóa thương mại của AEC.
Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 đã tác động sâu sắc đến kinh tế, thương mại toàn cầu, dẫn đến những thay đổi, điều chỉnh mới. Đại dịch buộc các nền kinh tế và đối tác phải suy tính và thực hiện chu toàn hơn việc lựa chọn thị trường, mặt hàng mục tiêu, phương thức tiếp cận từng thị trường để đảm bảo thị trường không bị ngăn trở, các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị không bị đứt gãy, gián đoạn. Cơ cấu thương mại của mỗi quốc gia vì thế cũng sẽ phải thay đổi tương ứng. Để luận giải căn cơ cho những vấn đề đang đặt ra như: sự giảm sút trong vai trò của thị trường ASEAN đối với thương mại quốc tế của Việt Nam, nhập siêu từ ASEAN chưa được cải thiện, giải pháp nào, biện pháp nào để Việt Nam tận dụng tốt hơn những cơ hội từ AEC, cũng như nâng cao hiệu quả khai thác thị trường ASEAN, hướng tới hài hoà lợi ích giữa các bên và đạt tới cán cân thương mại cân bằng và bền vững hơn.
Đây là những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đang đặt ra đối với các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách, đồng thời cũng được các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan truyền thông báo chí quan tâm. Nghiên cứu cơ cấu thương mại của Việt Nam với ASEAN và các giải pháp tái cơ cấu thương mại sẽ góp phần tìm câu trả lời cho những vấn đề nêu trên. Sau khi rà soát các công trình nghiên cứu liên quan, nghiên cứu sinh nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về thương mại của Việt Nam với ASEAN trong giai đoạn 2015-2020, cũng như đi sâu vào vấn đề tái cơ cấu thương mại Việt Nam-ASEAN trong bối cảnh mới. Về lý luận cũng chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề tái cơ cấu thương mại quốc tế, với thực tiễn áp dụng với thị trường ASEAN.
Trong khi đó, ASEAN những năm gần đây luôn là thị trường “nóng”, thu hút sự quan tâm đặt biệt của các nhà Lãnh đạo, cơ quan quản lý, cộng đồng doanh luan an 4 nghiệp, các cơ quan truyền thông, báo chí. Xuất phát từ tầm quan trọng của thị trường ASEAN và tính cấp bách của thực tiễn, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Tái cơ cấu thương mại Việt Nam-ASEAN” làm định hướng nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 2. Công trình nghiên cứu liên quan đến tái cơ cấu kinh tế và tái cơ cấu thương mại 2.
Công trình nghiên cứu liên quan tới tái cơ cấu kinh tế Nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia trong những thập kỷ qua đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, có lúc tăng trưởng tích cực, có lúc rơi vào suy thoái, khủng hoảng. Trước tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, để nắm bắt được các cơ hội phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoặc để thoát ra khỏi suy thoái, nhiều quốc gia đã thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, tập trung vào tái cơ cấu nền kinh tế, nhằm xác lập lại một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Chủ đề tái cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế do đó đã được nhiều tác giả trên thế giới cũng như trong nước nghiên cứu. Trong cuốn “Tái cơ cấu kinh tế tại Đông Á và Ấn Độ” (Economic Restructuring in East Asia and India), Agrawal Pradeep và cộng sự (2016) hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về tái cơ cấu kinh tế và nghiên cứu kinh nghiệm tái cơ cấu kinh tế của 5 nền kinh tế châu Á: Hàn Quốc, Xinh-ga-po, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ấn Độ.