CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 1. Cơ sở lý luận về trang trại phát triển bền vững 1. Khái niệm, đặc trưng của trang trại và kinh tế trang trại 1. Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại Trang trại và kinh tế trang trại là hai phạm trù khác nhau, nhưng đôi khi trên thực tế người ta thường có sự đồng nhất chúng.
Về thuật ngữ, kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại; còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó. Theo các nhà khoa học của trường Đại học Kinh tế quốc dân, “…nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại. Ngoài mặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường” [30]. Về xã hội, trang trại là tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó có các quan hệ đan xen nhau trong nội bộ giữa các thành viên của trang trại: quan hệ giữa chủ trang trại và lao động làm thuê, quan hệ giữa các lao động làm thuê trong trang trại với nhau.
Ngoài ra, còn có các quan hệ xã hội giữa trang trại này với các trang trại khác; giữa trang trại với các cơ quan quản lý vĩ mô, giữa trang trại với các tổ chức chính trị - xã hội… Về môi trường, trang trại là không gian sinh thái, trong đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại với hệ sinh thái của từng vùng. Như vậy, về bản chất trang trại là khái niệm rộng hơn kinh tế trang trại. Tuy nhiên, trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế là cơ bản và chứa đựng nội dung cốt lõi trong các hoạt động của trang trại. Mặt khác, giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phụ 8 thuộc vào nhau.
Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi nói tới trang trại, người ta thường nói tắt, nói cái bản chất của nó là kinh tế trang trại và ngược lại. Vì thế, tính đồng nhất giữa trang trại và kinh tế trang trại được thể hiện trong các nghiên cứu và các văn bản pháp luật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu định nghĩa khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại nêu rõ: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản [20].
Như vậy: Kinh tế trang trại là một trong các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá trong đó tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ thể độc lập, quá trình sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn có cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. Đặc trưng của trang trại và kinh tế trang trại Từ khái niệm trên có thể phân biệt trang trại với các hình thức tổ chức sản xuất khác, nhất là hộ nông dân theo các đặc trưng chủ yếu sau: - Một là, mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đây là đặc trưng đặc thù của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường so với các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nhất là hộ nông dân. Bởi vì, nếu hộ nông dân với mục đích sản xuất tự cấp tự túc, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính họ về các loại nông sản, thì sản xuất của trang trại với mục đích để bán.
- Hai là, trang trại là đơn vị sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản). Vì vậy, những đơn vị thuần tuý hoạt động chế biến và tiêu thụ sản phẩm không được coi là trang trại. Đối với các trang trại, nếu có hoạt động chế biến hay tiêu thụ thì đó là 9 những hoạt động kết hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp. - Ba là, trang trại là một trong hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cụ thể của nông, lâm, ngư nghiệp.
Bởi vì ngoài trang trại, trong nông nghiệp còn rất nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác như hộ nông dân, các nông trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp, các liên doanh sản xuất,. - Bốn là, ở trang trại tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Vì vậy, trang trại hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và công nghệ. đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm,.
- Năm là, chủ trang trại là người có ý chí và có năng lực tổ chức quản lý, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và thường là người trực tiếp quản lý trang trại. Tuy nhiên, những nội dung của đặc trưng này không hội tụ đầy đủ ngay từ đầu mà được hoàn thiện dần cùng với quá trình phát triển của trang trại và nhằm để phân biệt giữa trang trại với nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc. - Sáu là, tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn. Trang trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thường xuyên tiếp cận thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế phát triển, những đặc trưng trên của trang trại được biểu hiện một cách đầy đủ. Tuy nhiên ở mỗi nước, tùy theo điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế, những đặc trưng đó được biểu hiện ở những mức độ khác nhau. Ở nước ta hiện nay, khi nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng đang trong quá trình chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường, những đặc trưng của trang trại biểu hiện chưa thật rõ nét. Hầu hết các trang trại có quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ tổ chức và quản lý chưa cao, trình độ của chủ trang trại còn nhiều hạn chế là những biểu hiện mang tính phổ biến.
Vì vậy, sự phát triển của các trang trại còn kém hiệu quả và thiếu tính bền vững [16], [42]. Khái niệm và đặc trưng của phát triển trang trại bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, là vấn đề có tính toàn cầu. Đó là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.
Khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [17]. Khái niệm này được Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED phổ biến rộng rãi vào năm 1987: Phát triển bền vững là "sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của chính họ" [45]. Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định tại Hội nghị Rio-92 và được bổ sung hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg-2002: "Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" [28].
Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Ngay từ Đại hội III năm 1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [2]. Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000 nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” [3]. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [4].
Nghị quyết số 26- NQ/TW, ngày 5-8-2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông 11 nghiệp, nông dân, nông thôn nêu rõ: "Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài" [1]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 xác định: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược" [6]. Như vậy, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện, là chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành suốt tiến trình xây dựng và phát triển của đất nước. Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững Trong nông nghiệp, nông thôn, phát triển bền vững được hiểu một cách cụ thể hơn.
Đó là quá trình thay đổi mà trong đó, sự khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người.