CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO THUẬN LỢI THƯƠNG MẠI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TẠO THUẬN LỢI THƯƠNG MẠI ĐẾN NGHÈO ĐÓI VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP Chương này thảo luận khái niệm nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, tạo thuận lợi thương mại, phương thức để đo lường những khái niệm trên, cũng như tác động của tạo thuận lợi thương mại đến giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập. Tạo thuận lợi thương mại 1.1 Khái niệm Không có định nghĩa cụ thể nào về tạo thuận lợi thương mại. Trong giai đoạn đầu của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), chủ đề trọng tâm là hài hòa và đơn giản hóa các thủ tục và hồ sơ hải quan do chi phí để thực hiện các thủ tục và hồ sơ hải quan ở biên giới thường rất cao. Tuy nhiên, với việc cắt giảm thuế quan mạnh mẽ trong suốt 60 năm qua, đặc biệt là nhờ kết quả của vòng đàm phán Uruguay, chủ đề trọng tâm đã dần chuyển sang các dạng chi phí khác có thể hạn chế dòng chảy thương mại quốc tế, trong đó tạo thuận lợi thương mại là một trong những biện pháp ngày càng được chú ý.
Mục tiêu của tạo thuận lợi thương mại là giảm thiểu các chi phí giao dịch khi thực hiện xuất nhập khẩu hàng hóa (ADB & ESCAP, 2009; Economic Commission for Europe, 2002; OECD, 2001). Việc giảm thiểu những chi phí giao dịch này sẽ giúp giảm bớt sự bất định trong các giao dịch thương mại xuyên biên giới và thiết lập một cơ chế minh bạch hơn thúc đẩy sự tham gia rộng khắp của khu vực tư nhân vào thương mại quốc tế (ADB & ESCAP, 2009). Các nghiên cứu hiện có khẳng định rằng việc cắt giảm chi phí từ các biện pháp tạo thuận lợi thương mại chiếm một tỷ lệ cao trong tổng chi phí thương mại (Sohn & Yoon, 2001; ADB & ESCAPE, 2009). Mặc dù có sự thống nhất chung về mục tiêu chính, các tổ chức quốc tế vẫn định nghĩa khác nhau về phạm vi của tạo thuận lợi thương mại.
Thuật ngữ này có nhiều cách hiểu khác nhau, từ tập trung hẹp vào các vấn đề ở biên giới đến phạm vi bao quát rộng hơn toàn bộ quá trình giao dịch. Cách tiếp cận của WTO đối với tạo thuận lợi thương mại chỉ đơn giản là gói gọn trong phạm vi biên giới (World Bank, 2011) vì nó tập trung vào việc tháo gỡ những trở ngại về hải quan đối với trao đổi 5 thương mại. Trên thực tế, tạo thuận lợi thương mại được định nghĩa là “sự đơn giản hóa và hài hòa hóa1 các thủ tục thương mại quốc tế, trong đó thủ tục thương mại là các hoạt động, thông lệ và thủ tục liên quan đến việc thu thập, trình bày, trao đổi và xử lý, dữ liệu và thông tin khác cần thiết cho sự di chuyển của hàng hóa trong thương mại quốc tế”. Tạo thuận lợi thương mại lần đầu tiên được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Singapore tháng 12 năm 1996.
Sau vài năm nghiên cứu, các thành viên WTO chính thức đồng ý khởi động các cuộc đàm phán về chủ đề này vào tháng 7 năm 2004. Các vấn đề mới đã được thảo luận trong quá trình đàm phán WTO, chẳng hạn như các giấy tờ hải quan, minh bạch hóa các thủ tục thông quan và quá cảnh, với mục đích làm rõ và cải thiện GATT theo điều V (Tự do quá cảnh), Điều VIII (Phí và Thủ tục liên quan đến Xuất nhập khẩu) và Điều X (Công khai và Quản lý các Quy định Thương mại). Các cuộc đàm phán cũng nhằm mục đích tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực trong lĩnh vực này, đồng thời cải thiện tính hiệu quả của việc hợp tác giữa cơ quan hải quan và các cơ quan hữu quan khác về tạo thuận lợi thương mại và các vấn đề tuân thủ hải quan. Trong một nghiên cứu gần đây, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2013), sử dụng cơ sở dữ liệu chi phí thương mại quốc tế của ESCAP-Ngân hàng Thế giới, ước tính rằng việc thực hiện toàn diện tất cả các biện pháp đã đàm phán trong Vòng đàm phán Doha của WTO sẽ giảm tổng chi phí thương mại xuống 10 % ở các nền kinh tế phát triển và 13 – 15.5% ở các nền kinh tế đang phát triển.
Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) cũng tập trung vào hài hòa hóa và đơn giản hóa các thủ tục hải quan nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của các cơ quan hải quan. Theo quan điểm của WCO, tạo thuận lợi thương mại là “để đảm bảo việc loại bỏ các hạn chế không cần thiết bằng cách áp dụng các kỹ thuật và công nghệ hiện đại, đồng thời cải thiện chất lượng của các phương pháp kiểm soát theo cách thức hài hòa quốc tế” (ADB & ESCAP, 2009). Cách tiếp cận này cũng được một số tổ chức quốc tế khác lựa chọn. Ví dụ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa nó là “đơn giản hóa và hợp lý hóa các thủ tục hành 1 Hài hòa hóa nghĩa là các biện pháp tạo thuận lợi thương mại được áp dụng rộng rãi, đồng nhất tại nhiều quốc gia 6 chính làm chậm trễ hoặc tăng chi phí vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới” (ADB & ESCAP, 2009).
Tuy nhiên, càng ngày, trọng tâm của cuộc tranh luận về tạo thuận lợi thương mại càng chuyển sang một cách tiếp cận toàn diện hơn bao gồm các chi phí giao dịch liên quan đến sự di chuyển của hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng quốc tế. Ví dụ, Phòng Thương mại Quốc tế định nghĩa tạo lợi nhuận hóa thương mại một cách rộng rãi là “để nâng cao hiệu suất của các quá trình liên quan đến buôn bán hàng hóa qua biên giới quốc gia”. Cách tiếp cận thực dụng hơn này dựa trên giả định rằng các biện pháp tạo thuận lợi thương mại được áp dụng tại biên giới sẽ kém hiệu quả hơn nếu có các rào cản quan trọng trong một khâu nào đó trong chuỗi cung ứng. Thật vậy, các nghiên cứu ARTNeT khác nhau về tạo thuận lợi thương mại (ví dụ, ESCAP & UNDP, 2007) đã chỉ ra rằng việc co hẹp phạm vi vào tạo thuận lợi hải quan không đáp ứng tốt nhu cầu của các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển.
Do đó, các biện pháp tạo thuận lợi thương mại cũng phải bao gồm các vấn đề đằng sau cửa khẩu, chẳng hạn như chi phí vận tải và hậu cần, điều kiện cơ sở vật chất cơ sở hạ tầng, thương mại điện tử, thuận lợi hóa kinh doanh, tài trợ thương mại, chính sách trong nước và các vấn đề khác liên quan đến việc xâm nhập thị trường Cách tiếp cận tổng quát hơn đưa ra bởi Trung tâm Tạo thuận lợi Thương mại và Kinh doanh Điện tử của Liên hợp quốc (UN/CEFACT) định nghĩa tạo thuận lợi thương mại là “sự đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa các thủ tục và các luồng thông tin liên quan cần thiết để chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua và để thực hiện thanh toán”. Tương tự, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế định nghĩa tạo thuận lợi hóa thương mại là “đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa các thủ tục và các luồng thông tin liên quan cần thiết để di chuyển hàng hóa xuyên biên giới từ người bán sang người mua và thực hiện thanh toán”(OECD, 2001). Theo định nghĩa này, tạo thuận lợi hóa thương mại bao gồm tất cả các bước của “Mô hình Mua-Bán-Thanh toán” (Hình 1.1), cho phép tối ưu hóa các thủ tục quy định, kiểm soát của chính phủ và cải tiến tổng thể các quy trình kinh doanh (ADB & ESCAP, 2009). ADB & ESCAP (2009), trong khi lựa chọn sự cân bằng giữa cách tiếp cận hẹp và rộng, đã đưa vào phạm vi tạo thuận lợi hóa thương mại tất cả các chính sách 7 và quy trình nhằm giảm chi phí, thời gian và sự không chắc chắn liên quan đến việc tham gia vào thương mại quốc tế, ngoại trừ các công cụ thương mại truyền thống như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu và các hàng rào phi thuế quan.
Tương tự, Ủy ban Kinh tế Châu Âu (2002) đặt trọng tâm của thuận lợi hóa thương mại vào (a) đơn giản hóa (và loại bỏ nếu có thể) các thủ tục và quy trình hải quan, (b) hài hòa các luật và quy định hiện hành, (c) cải tiến và tiêu chuẩn hóa chất lượng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất, và (d) tiêu chuẩn hóa việc sử dụng thông tin và công nghệ truyền thông.1: Mô hình Mua – Bán – Thanh toán MUA BÁN THANH TOÁN CHUẨN BỊ XUẤT VẬN CHUẨN BỊ NHẬP XUẤT KHẨU KHẨU CHUYỂN NHẬP KHẨU KHẨU - Lập hợp đồng - Thực hiện - Tiếp nhận giấy - Cung cấp xếp THỦ TỤC THƯƠNG MẠI THỦ TỤC TÀI CHÍNH THỦ TỤC GIAO NHẬN THỦ TỤC QUY ĐỊNH thương mại. vận chuyển và phép nhập hạng tín dụng - Đặt hàng. khẩu/xuất khẩu. - Đề xuất phương thức đơn, hóa đơn quan.
- Cung cấp bảo vận chuyển. tiền hàng, - Thực hiện hiểm. phiếu báo cáo thông quan. - Cung cấp tín - Yêu cầu điều nhập hàng.
khoản thanh - Áp dụng thủ dụng. tục an ninh - Loại trừ vấn thương mại. - Thông quan hàng hóa nhập khẩu/xuất khẩu. Nguồn: Website UNECE Bất chấp đặc điểm kỹ thuật khác nhau của các thuật ngữ, các biện pháp tạo thuận lợi thương mại được hướng dẫn bởi niềm tin vào lợi ích của sự gia tăng dòng chảy thương mại, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển nhất (Least Developed Countries) và các nước đang phát triển không giáp biển (Land Lock Developing Countries).
Ngoài ra, theo Ngân hàng Thế giới (2009), chi phí tuân thủ tất cả các 8 thủ tục cần thiết để nhập khẩu hàng hóa là hơn 2.000 USD/container ở châu Phi cận Sahara, với các con số tương ứng đối với Trung Á và Đông Âu đều xấp xỉ ngưỡng 1. Ở châu Phi cận Sahara, thời gian cần thiết để tuân thủ tất cả các thủ tục nhập khẩu hàng hóa bắt buộc là trung bình 41 ngày (32,5 ngày đối với Nam Á, 32 ngày đối với Đông Âu và Trung Á, và 27 ngày đối với Trung Đông và Bắc Châu phi). Các vấn đề về quá cảnh đặc biệt nghiêm trọng đối với các LLDC, nơi mà quyền vận chuyển bị cản trở làm tăng chi phí vận tải và chi phí nhập khẩu, đồng thời làm chậm đáng kể các giao dịch thương mại, do đó cũng làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu của họ trên thị trường thế giới. Các phương pháp tạo thuận lợi thương mại có thể mang lại lợi ích to lớn cho các quốc gia đó, đặc biệt khi được thiết kế theo cách thúc đẩy tăng trưởng bao trùm.