đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của ODA, các nguồn cung cấp ODA trên thế giới. Nêu lên và phân tích đánh giá nhân tố thương 4 mại ảnh hưởng đến nguồn vốn ODA. Trình bày sơ lược các nghiên cứu trước liên quan đến nguồn vốn ODA.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương này tác giả giới thiệu về thủ tục và quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu. Cũng như thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu, các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Phần này sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả của các biến giải thích, phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng, xác định mức độ tác động của nhân tố thương mại ảnh hưởng đến nguồn vốn ODA. Chương 5: Kết luận Chương này sẽ trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu có được, thảo luận các kết quả nổi bật, đồng thời đưa ra những ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu, có thể đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày lý thuyết về ODA, bao gồm những vấn đề cơ bản liên quan đến ODA như khái niệm, phân loại, đặc điểm và vai trò của ODA, các nghiên cứu về ODA, các nhân tố tác động đến ODA trong đó có tác động của thương mại. Giới thiệu chung về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 2. Khái niệm: ODA là tên gọi tắt của ba từ tiếng Anh: Official Development Assistance có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức; đây là một hình thức đầu tư nước ngoài. Nó được gọi là viện trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, đôi khi còn gọi là hỗ trợ, gọi là phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư, gọi là chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Trong khuôn khổ hợp tác phát triển các nước OECD đã lập ra những ủy ban chuyên môn, trong đó có DAC nhằm giúp các nước đang phát triển trong việc phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại là 25%, còn 75% là cho vay. Lợi thế khi vay nguồn viện trợ ODA là nguồn vốn khá lớn, điều kiện vay thuận lợi, lãi suất thấp. ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với các nước đang phát triển.
Cho đến nay có nhiều định nghĩa về hỗ trợ phát triển chính thức như sau: Năm 1967, DAC của OECD đưa ra khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức là những chuyển giao hỗ trợ chính thức mà mục tiêu chính là xúc tiến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển với điều kiện tài chính ưu đãi. Năm 1972, DAC cho rằng: “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Theo định nghĩa này thì vốn ODA là dòng vốn từ bên ngoài dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của Chính 6 phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Nguồn vốn chuyển giao phải thỏa mãn: (1) Mục đích chính của nguồn vốn là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển; (2) Yếu tố không hoàn lại trong khoản cho vay ưu đãi chiếm ít nhất 25% trong tổng vốn viện trợ. Theo định nghĩa của Nhật Bản, một loại viện trợ muốn là ODA phải đủ 3 yếu tố: (1) Do chính phủ, (2) Có mục đích góp phần tái thiết kinh tế hoặc nâng cao phúc lợi cho các nước nhận viện trợ, (3) Tính ưu đãi phải trên 25%. Theo Nguyễn Quang Thái (Viện chiến lược phát triển): Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO). Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.
ODA gồm có viện trợ của chính phủ các nước tài trợ cho các nước thu nhập thấp và trung bình (Perkins, 2010). Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng những quan điểm về ODA đều có chung bản chất: ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển giúp chính phủ nước đó giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế xã hội. Phân loại ODA: Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nguồn vốn ODA: 2. Phân loại theo tính chất nguồn vốn: ODA có ba loại: ODA không hoàn lại: Viện trợ không hoàn lại là các khoản cho không, không phải trả lại.
Các nhà tài trợ nước ngoài tài trợ loại ODA này cho các nước đang và chậm phát triển với mục đích ưu tiên sử dụng chủ yếu cho các chương trình, dự án thuộc các lĩnh vực 7 không có khả năng thanh toán vốn như: phục vụ xã hội, khoa học công nghệ, nghiên cứu chính sách,…(Voer, 2015). Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng như: hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật, đầu tư các dự án bảo vệ môi trường. ODA vốn vay ưu đãi: Viện trợ vốn vay ưu đãi là các khoản vay ưu đãi hay còn gọi là tín dụng với điều kiện “mềm”, các khoản vay này đều có yếu tố không hoàn lại ít nhất là 25% giá trị khoản vay ưu đãi. Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tùy theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp.
Những điều kiện ưu đãi thường là lãi suất thấp (tùy thuộc vào mục tiêu vay và nước vay), thời hạn vay nợ dài (từ 20-30 năm), thời gian ân hạn (từ 10-12 năm) để vốn vay có thời gian phát huy hiệu quả (Voer, 2015). ODA cho vay hỗn hợp: Viện trợ hỗn hợp là khoản viện trợ bao gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể là tín dụng ưu đãi hoặc tín dụng thương mại theo các điều kiện của OECD). Những yếu tố không hoàn lại phải đạt không dưới 25% tổng giá trị của các khoản vốn đó; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại với một phần tín dụng ưu đãi và một phần tín dụng thương mại nhưng phải đảm bảo yếu tố không hoàn lại của khoản vay đó tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% đối với khoản vay có ràng buộc. Loại ODA hỗn hợp này thường được sử dụng cho các chương trình, dự án xây dựng hoặc cải tạo hạ tầng kinh tế xã hội, có khả năng hoàn vốn chậm (Voer, 2015).
Phân loại theo mục tiêu sử dụng: ODA có bốn loại: Hỗ trợ cán cân thanh toán: Hỗ trợ cán cân thanh toán được thực hiện thông qua chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA hoặc hỗ trợ nhập khẩu tức là chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ. 8 Nói cách khác hỗ trợ cán cân thanh toán gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao trực tiếp cho nước nhận ODA hay hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa). Tín dụng thương nghiệp: Tương tự như viện trợ hàng hóa nhưng có kèm điều kiện ràng buộc. Viện trợ chương trình: Viện trợ chương trình hay còn gọi là viện trợ phi dự án, nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định tính chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
Viện trợ dự án: Viện trợ dự án chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA, điều kiện được nhận viện trợ dự án là phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA. Phân loại theo nguồn cung cấp: ODA gồm hai loại: ODA song phương: ODA song phương là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. ODA song phương dựa trên mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia nên thủ tục ký kết nhanh, lĩnh vực hợp tác đa dạng và qui mô dự án rất linh hoạt. ODA đa phương: ODA đa phương là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế hay tổ chức khu vực hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF)… Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu: Ngân hàng thế giới (WB), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
Phân loại theo điều kiện: ODA gồm ba loại: ODA không ràng buộc: 9 ODA không ràng buộc nước nhận là khoản viện trợ mà nước nhận có quyền sử dụng theo mục đích, yêu cầu của mình, không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.