CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về doanh nghiệp tại Việt Nam Tính đến năm 2019, cả nước có 138.139 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 5,2% so với năm 2018. Theo khu vực kinh tế: Khu vực dịch vụ có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 nhiều nhất với 99.548 doanh nghiệp, tăng 5,1% so với năm 2018, khu vực công nghiệp và xây dựng có 36.562 doanh nghiệp, tăng 5,3%, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 2.029 doanh nghiệp, tăng 9,9%. Theo địa phương: Có 30/63 địa phương có tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 so với năm 2018 cao hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước, trong đó một số địa phương tập trung nhiều doanh nghiệp của cả nước có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 tăng so với năm 2018: Bắc Ninh tăng 17,8%; Bình Dương tăng 11,6%; Hà Nội tăng 9,8%; Đồng Nai tăng 7,6%; Đà Nẵng tăng 6,0%.
Có 10/63 địa phương có tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 so với năm 2018 thấp hơn tốc độ tăng bình quân chung cả nước. Có 23/63 địa phương có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 giảm so với năm 2018, trong đó có 6/20 địa phương có số lượng doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 lớn (trên 1000 doanh nghiệp) giảm so với năm 2018 gồm: Nghệ An giảm 6,5%; Hải Phòng giảm 6,4%; Kiên Giang giảm 5,8%; Thanh Hóa giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 3,0%; Khánh Hòa giảm 1,2%. ( Theo: Con số sự kiện, Doanh nghiệp Việt nam năm 2019 – bức tranh toàn cảnh, tổng cục thống kê, bộ kế hoạch đầu tư) Tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới năm 2019 đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2018. Theo khu vực kinh tế: Năm 2019 vốn đăng ký của khu vực dịch vụ đạt cao nhất với 1,17 triệu tỷ đồng, chiếm 67,6%, tăng 12,9% so với năm 2018; khu vực công nghiệp 531,15 nghìn tỷ đồng, tăng 30,2%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 25,6 nghìn tỷ đồng, giảm 16,5% so với năm 2018.
Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động Năm 2019, cả nước có 39.421 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 15,9% so với năm 2018 và đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2014-2019. Theo khu vực kinh tế: Có 27.278 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ quay trở lại hoạt động, tăng 18,7% so với năm 2018; có 11.429 doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng, tăng 11,6% và 714 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 10,0%. Những địa phương có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trên 1000 doanh nghiệp và tăng so với năm 2018 gồm: Thanh Hóa là địa phương tăng cao nhất với 1.697 doanh nghiệp, tăng 130,9%; Hải Phòng có 1.209 doanh nghiệp, tăng 22,2%; Hà Nội có 7.612 doanh nghiệp, tăng 17,7%; thành phố Hồ Chí Minh có 11.006 doanh nghiệp, tăng 6,5%. Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Trong năm 2019, tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký trên phạm vi cả nước là 28.731 doanh nghiệp, tăng 5,9% so với năm 2018; có 43.711 doanh nghiệp chờ giải thể, tăng 41,7% và có 16.840 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 3,0%.
Theo địa phương: Có 29/63 địa phương có số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký trong năm 2019 giảm so với năm 2018. Có 5/63 địa phương có số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký trong năm 2019 trên 1.000 doanh nghiệp, trong đó có 2 địa phương có số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh giảm gồm: Thanh Hóa có 1.022 doanh nghiệp, giảm 11,5%; Hải Phòng có 1.035 doanh nghiệp, giảm 11,4% và 3 địa phương có số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng: Hà Nội có 6.319 doanh nghiệp, tăng 10,2%; thành phố Hồ Chí Minh có 7.800 doanh nghiệp, tăng 9,4%; Đà Nẵng có 1.150 doanh nghiệp, tăng 0,3%. Đồng bằng sông Hồng là khu vực có số lượng doanh nghiệp chờ giải thể lớn nhất với 14.390 doanh nghiệp, chiếm 33,0% số doanh nghiệp chờ giải thể của cả nước; tiếp đến là khu vực Đông Nam Bộ có 14.035 doanh nghiệp, chiếm 3 32,1%. Có 28/63 địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể năm 2019 so với 2018 cao hơn bình quân chung cả nước, trong đó có 3 địa phương có số doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể trên 1000 doanh nghiệp: Cà Mau có 1.439 doanh nghiệp, tăng 382,9%; Hà Nội có 2.110 doanh nghiệp, tăng 24,3%; thành phố Hồ Chí Minh có 5.146 doanh nghiệp, tăng 23,5%.
Có 35/63 địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể năm 2019 so với năm 2018 thấp hơn bình quân chung cả nước. Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký Năm 2019, qua kiểm tra của cơ quan thuế, cả nước có 46.841 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, không tìm thấy, không liên lạc được, tăng 43,4% so với năm 2018. Doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh Theo số liệu điều tra và cập nhật của ngành Thống kê tại thời điểm 31/12/2018, cả nước có 610.637 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, tăng 9% so với thời điểm 31/12/2017.169 doanh nghiệp kinh doanh có lãi, chiếm 44,1%; có 45.737 doanh nghiệp kinh doanh hòa vốn, chiếm 7,5%; có 295.731 doanh nghiệp kinh doanh lỗ, chiếm 48,4%. Trong đó: - Tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12/2018 là 14,82 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm 2017.
- Tổng nguồn vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh đạt 38,93 triệu tỷ đồng, tăng 18%. - Tổng doanh thu thuần của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2018 đạt 23,64 triệu tỷ đồng, tăng 14,4% so với năm 2017. 4 - Tổng lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp năm 2018 đạt 895,56 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2017 (thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 18% của vốn và 14,4% của doanh thu). - Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh như sau: Hiệu suất sử dụng lao động bình quân toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2018 đạt 15,3 lần.
Chỉ số nợ chung của toàn bộ doanh nghiệp năm 2018 là 2,1 lần, nói cách khác, tổng số nợ bình quân của doanh nghiệp năm 2018 gấp 2,1 lần vốn tự có bình quân của doanh nghiệp. Chỉ số quay vòng vốn năm 2018 của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đạt 0,6 lần, thấp hơn mức 0,7 lần của năm 2017. Hiệu suất sinh lợi trên tài sản của toàn bộ khu vực doanh nghiệp năm 2018 đạt 2,4%. Hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp năm 2018 đạt 7,6%.
Hiệu suất sinh lợi trên doanh thu đạt 3,8%. Thu nhập bình quân tháng một lao động của doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh năm 2018 đạt 8,82 triệu đồng, tăng 6,6% so với năm 2017. Vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nên kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất , huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo.
Xã hội phát triển, dân số tăng cao, nhu cầu việc làm của người lao động ngày càng nhiều, các doanh nghiệp hiện nay góp phần đáp ứng nhu cầu giải quyết công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đã góp phần phát triển thị trường hàng hóa, cung ứng dịch vụ, mua sắm, vui chơi, giải 5 trí. góp phần nâng cao đời sống cả vật chất và tinh thần cho nhân dân. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đã đầu tư, xây dựng một số mô hình liên kết chuỗi, sản xuất ứng dụng công nghệ cao với nông dân.
đã phát huy thế mạnh, nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản đặc sản Việt Nam. Cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng được mọi nhu cầu của người tiêu dùng trong cuộc sống, thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế. Đồng thời, tạo ra môi trường cạnh tranh và phát triển bền vững. Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.
Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập. Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định và làm mạnh hóa các vấn đề xã hội. Công nghiệp sản xuất, gia công ngành dệt may Năm 2018, ngành Dệt may Việt Nam đánh dấu mốc quan trọng khi kim ngạch xuất khẩu đạt trên 36 tỷ USD, tăng trưởng hơn 16% so với năm 2017 (năm 2015 tăng 12,1%, năm 2016 tăng 4,07%, năm 2017 tăng 10,8%). Ngành Dệt may Việt Nam nằm trong tốp 3 nước xuất khẩu cao nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ.
Cụ thể, năm 2018, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,78 tỷ USD, tăng 14,45% xuất khẩu vải đạt 1,66 tỷ USD, tăng 25,5% xuất khẩu xơ sợi đạt 3,95 tỷ USD, tăng 9,9% xuất khẩu vải không dệt đạt 528 triệu USD, tăng 15,54% xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt 1,23 tỷ USD, tăng 14,59%, đáng chú ý, giá trị thặng dư ngành Dệt may năm 2018 ước đạt 17,86 tỷ USD, tăng 14,39%. 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế thế giới có xu hướng tăng chậm lại do những biến động và xung đột chính trị, thương mại, đặc biệt chính sách bảo hộ, chiến tranh thương mại gia tăng ngày càng phức tạp, khó lường, nhưng ngành 6 dệt may đạt tổng kim ngạch xuất khẩu gần 18 tỷ USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm 2018 trong đó, hàng may mặc đạt 14,02 tỷ USD, tăng 8,71%.