chương 1 trong giáo trình Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình Bệnh học trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm. Tham khảo trong các tài liệu khác 9 Chƣơng 2: Các bệnh thƣờng gặp ở trẻ em (TS: 08 tiết) A. Kiến thức - Cung cấp cho SV kiến thức về nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em như bệnh liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa, bệnh thuộc hệ tiêu hóa,… 2. Kỹ năng - Từ kiến thức đã lĩnh hội được, SV tích cực vận dụng vào thực tế, phối hợp với phụ huynh phòng các bệnh thường gặp cho trẻ ở trường mầm non có hiệu quả.
Thái độ - Sinh viên có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực. Thấy rõ vai trò của môn học đối với quá trình CS - GD trẻ ở trường mầm non. Giảng viên - Giáo án - Tài liệu chính: Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình Bệnh học trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm. - Tài liệu tham khảo: 1.
Lê Thị Mai Hoa (2009), Phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam. Lê Thị Mai Hoa (2013), Giáo trình dinh dưỡng trẻ em tuổi nhà trẻ mẫu giáo, Nxb Đại học Sư phạm. Hoàng Thị Phương (2013), Giáo trình vệ sinh trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm. Người học - Tài liệu: Lê Thị Mai Hoa (2014), Giáo trình Bệnh học trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm.
- Đồ dùng học tập C. Các bệnh liên quan đến dinh dƣỡng và chuyển hóa 1. Bệnh suy dinh dưỡng 10 - Bệnh SDD là tình trạng cơ thể thiếu Pr, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Nguyên nhân - Do việc chăm sóc bà mẹ khi có thai và khi cho con bú chưa tốt.
- Do sai lầm trong cách nuôi con như: không cho trẻ bú sữa non, không nuôi con bằng sữa mẹ, hoặc chưa tận dụng sữa mẹ để nuôi con trong 3 - 4 tháng đầu. - Nhiều bà mẹ trẻ chưa được chuẩn bị kiến thức nuôi con. - Ảnh hưởng của các phong tục, tập quán, thói quen. - Do hậu quả của các bệnh như: tiêu chảy, viêm phổi, sởi, lao,.gây rối loạn chuyển hóa các chất làm cho trẻ biếng ăn, sụt cân.
- Các nguyên nhân khác: trình độ kinh tế, văn hóa xã hội kém phát triển dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, trẻ bị mù chữ cao, tỉ lệ sinh cao, thiếu nước sạch, môi trường ô nhiễm. Phân loại - Thống nhất sử dụng cách phân loại của Tổ chức y tế thế giới năm 1981, đó là đánh giá SDD dựa vào tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi, có các mức độ: + SDD độ 1: cận nặng dưới - 2SD đến - 3SD tương đương với cân nặng còn 70 - 80% so với cân nặng của trẻ bình thường. + SDD độ 2: Cân nặng dưới -3SD - 4SD tương đương với cân nặng còn 60 - 70%. + SDD độ 3: Cân nặng dưới - 4 SD tương đương với cân nặng còn dưới 60%.
Các biểu hiện của SDD * Suy dinh dưỡng độ 1: - Cân nặng còn 70 - 80% - Lớp mỡ dưới da bụng mỏng - Trẻ vẫn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loạn tiêu hóa. * Suy dinh dưỡng độ 2: - Cân nặng còn 60 - 70% - Mất lớp mỡ dưới da bụng, mông và chi - Rối loạn tiêu hóa từng đợt - Trẻ có thể biếng ăn * Suy dinh dưỡng độ 3 - Thể teo đét 11 + Cân nặng còn dưới 60% + Trẻ gầy đét, da bọc xương, vẻ mặt như cụ già do mất toàn bộ lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi và má. + Cơ nhão làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. + Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi.
+ Trẻ có thể thèm ăn hoặc kém ăn, thường xuyên rối loạn tiêu hóa, phân sống. + Gan hơi to hoặc bình thường - Thể phù: + Cân nặng còn 60 - 80% + Trẻ phù từ chân đến mặt rồi phù toàn thân, phù trắng, mềm, ấn lõm. + Cơ nhẽo đôi khi che lấp do phù + Lớp mỡ dưới da còn được giữ lại nhưng không chắc. + Da khô, trên da có thể xuất hiện những mảng sắc tố ở bẹn, đùi, tay.
+ Tóc thưa dễ rụng, có màu hung đỏ, móng tay mềm, dễ gẫy. - Thể phối hợp + cân nặng còn dưới 60% + Trẻ phù nhưng cơ thể lại gầy đét, kém ăn và hay bị rối loạn tiêu hóa. Phòng và điều trị * Phòng bệnh - Cần làm tốt công tác CS sức khỏe khi có thai và thời kì cho con bú. - 4 biện pháp phòng bệnh trực tiếp đã được Tổ chức y tế thế giới tổng kết và phổ biến.
- 3 biện pháp phòng bệnh khác cần thực hiện đồng bộ giữa cộng đồng và gia đình. * Điều trị - Cần chữa khỏi các bệnh trẻ đang mắc - SDD thể nhẹ và trung bình chủ yếu xem xét và điều chỉnh chế độ ăn hợp lý hoặc nâng khẩu phần ăn cả về số lượng và chất lượng. - SDD thể nặng phải xem như một bệnh cấp cứu, tỷ lệ tử vong của trẻ SDD nặng cao hay thấp phụ thuộc vào sự chăm sóc trẻ và cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện. - Biện pháp điều trị chung 12 + Bù nước và điện giải + Điều chỉnh chế độ ăn + Bồi phụ vitamin A và muối kali + Chống thiếu máu + Chống nhiễm khẩn + Chống hạ đường huyết, hạ thân nhiệt + Chăm sóc vệ sinh thân thể 2.
Định nghĩa: - Bệnh còi xương là do thiếu vitamin D (còn gọi là bệnh còi xương dinh dưỡng) là bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 3 tuổi. - Trẻ em bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và chuyển hóa can xi và phootpho. Hai chất này cần thiết cho sự phát triển của xương. Nguyên nhân - Do trẻ em sống trong những căn nhà chật chội, thiếu ánh nắng do tập quán kiêng khem không cho trẻ ra ngoài trời; trẻ sinh vào mùa đông, ở các vùng nhiều mây mù, nhà trẻ thiếu ánh nắng mặt trời.
- Do chế độ ăn uống - Trẻ đẻ non, sinh đôi do dự trữ vitamin D thấp - Trẻ bị nhiễm khuẩn - Những trẻ bị tiêu hóa kéo dài hoặc tắc đường mật c. Triệu chứng - Các biểu hiện thần kinh: thường xuất hiện sớm, trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, vã mồ hôi trộm. - Các biểu hiện ở xương: xương sọ mềm, thóp trước rộng, bờ mềm, chậm kín thóp; có các bướu đỉnh và trán làm đầu to; chậm mọc răng, chậm phát triển vận động,. - Giảm trương lực cơ, bụng to bè, cơ nhẽo, thiếu máu thường gặp ở trẻ còi xương nặng.
- Chụp X quang xương và xét nghiệm thấy photpho, can xi máu giảm và enzim photophataza kiềm trong máu tăng. Tiến triển và diễn biến của bệnh - Khởi phát: có các biểu hiện thần kinh và máu 13 - Toàn phát: có các đầy đủ triệu chứng kể trên - Giai đoạn hồi phục: các triệu chứng thần kinh giảm, các xét nghiệm trở lại bình thường nhưng trên phim X quang xương có biểu hiện lắng đọng vôi. - Giai đoạn di chứng: Có thể để lại các biến dạng ở xương. Trẻ bị còi xương giảm can xi máu thường bị các cơn co giật, cơ thể ốm yếu, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn.
Phòng và điều trị * Phòng bệnh - Nuôi trẻ bằng sữa mẹ - Đưa trẻ ra ngoài nắng dịu vào buổi sáng hằng ngày, chú ý để chân, tay, ngực, bụng trẻ lộ ra ngoài. - Ăn uống đủ chất - Chăm sóc bà mẹ lúc mang thai và cho con bú - Phát hiện sớm và đưa trẻ đến cơ sở y tế khám kịp thời. * Điều trị: Chủ yếu cho trẻ tắm nắng và uống vitamin D theo đơn của bác sĩ. Bệnh bướu cổ do thiếu i ốt a.
Nguyên nhân - Bệnh bướu cổ do thiếu hụt i ốt trong nước ăn và thực phẩm. - Thiếu i ốt không chỉ gây ra bướu cổ mà đáng lo ngại nhất là giảm sự phát triển về trí tuệ, dẫn đến thiểu năng trí tuệ và đần độn. Triệu chứng - Bình thường không nhìn thấy và sờ thấy tuyến giáp, khi bị bướu cổ tuyến giáp sẽ to ra nên có thể nhìn và sờ thấy được. Có 3 mức độ: + Độ 1: nhìn thấy hình tuyến giáp khi nuốt + Độ 2: có thể nhìn thấy khi ngồi gần + Độ 3: có dấu hiệu chèn ép, làm biến dạng hình dáng và kích thước của cổ.
Phòng và điều trị * Phòng bệnh - Phải bổ sung i ốt cho mọi người dân sống trong vùng thiếu i ốt, chú ý đặc biệt đến trẻ em và phụ nữ có thai. Thường sử dụng 2 phương pháp bổ sung i ốt: ăn muối i ốt và tiêm dầu i ốt. * Điều trị - Điều trị bướu cổ bằng tinh chất hocmon tuyến giáp. Trường hợp bướu to cần cắt bỏ một phần tuyến giáp bị phì đại.
Hiện tượng tăng cân quá mức a. Xác định trẻ bị béo phì - Muốn biết trẻ có béo phì hay không thì phải biết cận nặng và chiều cao của trẻ, do đó có thể sử dụng phương pháp cân đo để xác định béo phì. Nếu trẻ có chiều cao đạt ở mức chuẩn bình thường mà cân nặng vượt quá mức bình thường 25% thì trẻ có nguy cơ bị béo phì. Nếu cân nặng vượt mức bình thường 50% thì chắc chắn trẻ đã bị béo phì.
Nguy cơ và tác hại của trẻ bị béo phì - Trẻ mất thoải mái trong cuộc sống, có cảm giác bức bối, khó chịu về mùa hè. - Về mặt hoạt động thể lực: trẻ béo phì thường hoạt động chậm chạp, nặng nề hơn trẻ khác do lớp mỡ dày chèn ép các cơ bắp làm cản trở sự hoạt động của chúng. - Về sức khỏe: trẻ béo phì khi lớn lên có nhiều nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp. - Về tâm lý: Trẻ béo phì dễ mặc cảm do bị bạn bè trêu chọc, phân biệt đối xử làm ảnh hưởng đến tâm lý và khả năng học tập của trẻ.
Nguyên nhân của trẻ em bị béo phì - Do trẻ ăn quá mức cần thiết - Do rối loạn chuyển hóa trong cơ thể thông qua vai trò của hệ thần kinh và các tuyến nội tiết. - Hoạt động thể lực ít cũng có thể gây béo phì - Do yếu tố di truyền d. Điều trị cho trẻ em bị béo phì - Giảm năng lượng đưa vào, giảm chất béo, đường, tăng chất xơ trong chế độ ăn. - Tăng năng lượng tiêu hao bằng lao động thể lực, thể dục thể thao.
- Có chế độ ăn cho trẻ béo phì hợp lý (SGT - 49) e.