Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về dân tộc Thái 1. Một vài nét về dân tộc Thái Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái được biết đến là một dân tộc thiểu số có lịch sử phát triển lâu đời. Người Thái có số lượng dân cư khá đông đúc, chủ yếu sống tập trung ở khu vực miền núi.
Người Thái sinh sống ở Việt Nam có cùng nguồn gốc với các cộng đồng ngữ hệ Thái trên thế giới (sinh sống ở Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ, Ma-lai-xi-a, Căm-pu-chia…). Ở từng quốc gia, từng địa phương, tùy thuộc những điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội… khác nhau mà người Thái bên cạnh những đặc điểm chung do cùng nguồn gốc dân tộc còn mang những nét đặc trưng riêng biệt. Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có số dân là 1. Đây là dân tộc có dân số đông thứ ba tại Việt Nam và dân tộc có số dân đông thứ hai trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Đặc biệt, đây là dân tộc đông dân cư nhất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam. Đồng bào Thái sống rải rác và có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố của nước ta nhưng cư trú tập trung nhất tại khu vực miền núi ở các tỉnh: Sơn La, Thanh Hóa, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, Đắk Lắk, Đắk Nông… Trong đó, có thể nói Tây Bắc là một trong những cái nôi của người Thái cổ. Khác với một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Thái sống tập trung ở các vùng thung lũng, cao nguyên hay lòng chảo, nơi có đất đai phì nhiêu, địa hình tương đối bằng phẳng. Tiêu biểu như ở bốn cánh đồng lớn của vùng Tây Bắc: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than là nơi tập trung chủ 7 download by : skknchat@gmail.com yếu cư dân Thái.
Từ đặc điểm của địa bàn cư trú như vậy nên nền kinh tế của họ chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp. Cũng giống như các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam, từ khi xuất hiện, con người phải lao động kiếm sống để tồn tại và phát triển. Những nhu cầu bản năng hay do thực tế cuộc sống đặt ra đòi hỏi con người phải thích ứng, trải qua thời gian hình thành thói quen. Những thói quen của cộng đồng được chấp nhận và trở thành một nếp sống không thể thiếu trong sinh hoạt và giao tiếp xã hội.
Thói quen đó còn được gọi là phong tục, tập quán. Trước hết, tập quán là “những thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và làm theo” (Theo Từ điển tiếng Việt). Những thói quen đã trở thành “nếp” của cá nhân hay cộng đồng người và được biểu hiện một cách cụ thể rõ ràng, ví dụ như nếp ăn, nếp mặc, nếp sinh hoạt. là tập quán mang tính xã hội.
Tập quán của con người bao giờ cũng được nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội nhất định. Khi những điều kiện sống thay đổi, những tập quán không phù hợp sẽ bị mờ đi, những tập quán mới xuất hiện. Phong tục là những thói quen có phạm vi ảnh hưởng rộng, là “thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo” [7]. Đối với dân tộc Thái, trải qua thời gian, những thói quen trong lao động, sản xuất, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây cũng được lưu truyền, cất giữ để trở thành phong tục, tập quán.
Những thói quen sinh hoạt ấy là những biểu hiện đặc trưng cho phong thái làm ăn, lối sống, nếp nghĩ của đồng bào Thái và trở thành những giá trị văn hóa khu biệt của người Thái đối với cộng đồng dân tộc khác. Chính điều này đã tạo nên bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Thái trong bức tranh muôn màu của văn hóa Việt Nam. Cộng đồng người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên thế giới. Đời sống tinh thần của người Thái dựa trên những tục có nghi thức thờ Nước và Đất.
Nước có biểu tượng thần chủ là con Rồng (Tô Luông) 8 download by : skknchat@gmail.com mang tên chủ nước (chảu nặm), và Đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ đất (chảu đin). Hai biểu tượng thần chủ Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của Mường và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mường (xên mương). Cũng giống như các dân tộc thiểu số Việt Nam, người Thái có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, có truyền thống từ lâu đời trong sinh hoạt cộng đồng. Có thể kể đến những phong tục tập quán tốt đẹp như lễ mừng thọ, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, hội ném còn, hạn khuống.
Ngoài ra, trong đời sống tinh thần của người Thái còn phải kể đến các tập tục truyền thống có từ rất lâu đời như: ma chay, cưới xin, cúng bản. Mỗi phong tục tập quán mang một nét đặc trưng riêng, thể hiện sự kết tinh trong đời sống văn hóa lâu đời của một cộng đồng người, đồng thời phản ánh sự phong phú của đời sống tinh thần tình cảm, trình độ tư duy của cộng đồng dân tộc đã phát triển và đạt đến trình độ cao. Có thể điểm qua một số phong tục tập quán đặc sắc, mang bản sắc riêng của người Thái dưới đây. Trước hết, phải nói đến phong tục trong những ngày lễ tết của người Thái.
Đây là phong tục có khá nhiều sự khác biệt so với người Kinh và nhiều dân tộc thiểu số khác. Trước đây, người Thái không tổ chức Tết nguyên đán giống như đại đa số các dân tộc Việt Nam. Với người Thái, ngày tết lớn nhất trong năm là tết cơm mới, được tổ chức hai lần mỗi năm vào thời điểm khi gặt hái xong vụ lúa chiêm hoặc lúa mùa. Lúc đó, mỗi gia đình sẽ làm mâm cơm nấu bằng gạo mới cúng tổ tiên, vừa để báo cáo thành quả lao động, vừa thể hiện lòng biết ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng bội thu.
Trong tết cơm mới, trong các món ăn bao giờ cũng phải có cá và đặc biệt người Thái kiêng ăn thịt gà trong ngày tết này. Về phong tục cưới xin, mỗi dân tộc có những nét riêng biệt. Tuy nhiên so với các dân tộc thiểu số khác, tập tục đám cưới của người Thái có xu hướng khá hiện đại, thoải mái. Người Thái chủ động khuyến khích trai gái đến tuổi 9 download by : skknchat@gmail.com dựng vợ gả chồng tự do tìm hiểu, yêu đương.
Khi có được sự đồng điệu trong tâm hồn, đôi trẻ tâm đầu ý hợp, họ hẹn hò nhau ở các buổi chợ phiên, các lễ hội trong năm… Khi nhận được sự đồng ý từ gia đình nhà gái, chàng trai người Thái sẽ đến ở rể và chung sống với gia đình cô gái. Và đến thời điểm tình yêu thực sự đến độ chín muồi, họ mới làm lễ cưới, chính thức trở thành vợ chồng. Cùng với cưới hỏi, trong phong tục của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và người Thái nói riêng còn phải nói về tập tục tang lễ. Với người Thái, sự ra đi của mỗi con người được coi là một sự kiện lớn của cộng đồng.
Chính vì vậy, việc tổ chức tang lễ được người Thái tiến hành rất cẩn trọng. Những người đến viếng sẽ mang theo gạo, rượu, thịt… tùy theo quan hệ với người đã mất. Trong đám ma của người Thái có rất nhiều nghi lễ cúng bái như lễ tắm xác, lễ nhập quan, lễ dẫn hồn, lễ đưa tang, lễ chôn cất, lễ gọi hồn… Một đám ma diễn ra trong thời gian tương đối dài, thường kéo dài khoảng ba, bốn ngày. Mọi tập tục ma chay của người Thái đều thể hiện tính nhân văn sâu sắc.
Những phong tục, tập quán của người Thái làm nên bản sắc riêng biệt, đồng thời góp phần tạo nên bức tranh đa dạng, muôn màu của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam. Từ nguồn gốc chung với cộng đồng ngữ hệ Thái trên thế giới, trải qua quá trình lịch sử dài lâu sinh sống trên trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Thái vừa lưu giữ những nét chung của cộng đồng ngữ hệ Thái từ ngàn xưa, vừa bổ sung, phát triển những đặc điểm riêng phù hợp với từng điều kiện sinh sống cụ thể do sự chi phối của điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội. Cộng đồng ngữ hệ Thái thường được phân chia thành hai ngành lớn là ngành phía Đông và ngành phía Tây. Người Thái ở Việt Nam thuộc ngành phía Tây theo sự phân chia ngữ hệ Thái ở trên.
Trong cộng đồng người Thái ở Việt Nam lại được chia thành Thái đen và Thái trắng với những đặc điểm rất khác nhau: 10 download by : skknchat@gmail.com “Thái đen chuộng số lẻ, cho rằng số lẻ tượng trưng cho sự linh động và phát triển. Điều này dẫn tới quy định số gian nhà, số bậc cầu thang lên nhà, tổng số cửa chính cửa sổ trong nhà… phải là số lẻ. Thái trắng chuộng số chẵn, coi số chẵn là thế ổn định vững chắc như đũa có đôi, người có vợ có chồng. Do đó, số gian nhà, bậc cầu thang, số cửa trong nhà… là số chẵn.
Ngoài ra, còn vài quy định về màu áo phụ nữ: Thái trắng có thể mặc áo màu trắng và các màu khác đen. Phụ nữ Thái đen mặc áo màu đen và các màu khác trắng. Áo phụ nữ Thái trắng cổ liền, hoặc chui đầu (Mai Châu, Hòa Bình), áo phụ nữ Thái đen cổ đứng. Phụ nữ Thái đen có chồng búi tóc ngược đỉnh đầu, Thái trắng búi sau gáy không phân biệt có chồng hay chưa.
Nhà Thái đen có mái hai trái hình khum mu rùa. Nhà Thái trắng có bốn mái phẳng. Cả hai bên đều chuộng nhà sàn…” [16, tr. Qua những sự khác biệt trên, có thể thấy người Thái trong lịch sử phát triển đã có những sự phân biệt ở từng nhóm, từng vùng miền.
Tuy nhiên, “Việc chia đen, trắng, có lẽ, chỉ còn có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Trong đời sống thực sự của nhân dân, sự phân biệt này không còn ý nghĩa nữa” [16, tr. Chính vì vậy, bên cạnh những nét riêng, về cơ bản đó vẫn là những nét chung khái quát. Trong suốt quá trình hàng nghìn năm qua, quá trình phát triển của dân tộc Thái gắn liền với quá trình phát triển dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cho đến hôm nay.