Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Bản sắc và giá trị văn hóa trống – Trống trận Tây Sơn do nghiên cứu sinh Nguyễn Bạch Mai thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Ngô Đức Thịnh và PGS. Kiều Trung Sơn. Công trình thuộc chuyên ngành Văn hóa Dân gian, mã số đào tạo 62 22 01 30, tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học và dân tộc nhạc học.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN ĐỊNH DANH LUẬN ÁN                                                   |
+---------------------+---------------------------------------------------------+
| Đề tài              | Bản sắc và giá trị văn hóa trống – Trống trận Tây Sơn   |
| Tác giả (NCS)       | Nguyễn Bạch Mai                                         |
| Chuyên ngành        | Văn hóa Dân gian (Mã số: 62 22 01 30)                   |
| Cơ sở đào tạo       | Học viện Khoa học xã hội                                |
| Người hướng dẫn     | 1. GS. Ngô Đức Thịnh; 2. PGS. Kiều Trung Sơn            |
| Năm bảo vệ          | 2016                                                    |
+---------------------+---------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bình Định là vùng đất có truyền thống văn hóa dân gian gắn liền với nghệ thuật tuồng (hát bội), bài chòi và võ thuật Tây Sơn. Trong hệ thống các di sản đó, trống trận Tây Sơn giữ vị trí trung tâm, được xem là biểu tượng văn hóa của vùng đất võ. Trống là loại nhạc khí gõ thuộc họ màng rung hoặc tự thân vang, có cấu tạo cơ bản gồm thân trống và mặt da bịt kín, tạo ra 4 âm thanh chính (tùng, tang, rụp, cắc) và 4 âm thanh phụ (t'rùng, t'rang, t'rụp, t'rắc). Tại Bình Định, trống trận Tây Sơn không đơn thuần là một nhạc khí hay một bộ 12 trống chiến mà là một tổ hợp dàn nhạc và một chỉnh thể tác phẩm âm nhạc - võ thuật ("hai trong một").

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng: mặc dù đã có nhiều bài viết, công trình khảo cứu về trống và nhạc võ Bình Định, song các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ âm nhạc học thuần túy hoặc miêu tả sơ lược. Yếu tố võ thuật trong nghệ thuật trình diễn trống (mảng miếng, đòn thế võ thuật ẩn tàng trong âm thanh và động tác múa trống) chưa được giải mã thấu đáo. Đồng thời, giới nghiên cứu vẫn tồn tại sự thiếu thống nhất về tên gọi (Trống võ Tây Sơn, Nhạc võ Tây Sơn, Trống trận Quang Trung, Trống trận Tây Sơn), chức năng và bài bản diễn tấu. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống bản sắc và giá trị văn hóa của trống trận Tây Sơn trên nền cảnh văn hóa trống Việt Nam là yêu cầu cấp thiết về mặt học thuật và thực tiễn di sản.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu lớn cùng các nhiệm vụ cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Tìm hiểu bản sắc văn hóa trống trận Tây Sơn:

    • Tìm ra các nét đặc thù trong kết cấu, nghệ thuật âm thanh và kỹ thuật trình diễn bộ 12 trống chiến trong dàn nhạc.
    • Phân tích các đặc trưng bài bản âm nhạc dân gian của trống trận Tây Sơn (thang âm, điệu thức, âm vực, cấu trúc khúc thức).
    • Phát hiện các đòn, thế, sắc võ thời Tây Sơn được hiển thính trong "tiếng trống" (võ thanh) và hiển thị trong "múa trống" (võ hình) qua nghệ thuật diễn tấu của võ công - nghệ nhân.
  2. Xác định giá trị văn hóa trống trận Tây Sơn:

    • Xác định giá trị tích hợp, gắn kết giao thoa của trống trận Tây Sơn với các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống tại Bình Định như tuồng, bài chòi và võ cổ truyền.
    • Đánh giá vai trò của âm hưởng nhạc điệu trống trận Tây Sơn như một nguồn cảm hứng sáng tạo cho các thể loại thanh nhạc và khí nhạc đương đại.
    • Khảo sát sức sống lan tỏa của trống trận Tây Sơn trong không gian lễ hội truyền thống, đời sống cộng đồng và việc định vị biểu tượng văn hóa đất võ trong tâm thức người dân Bình Định.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản sắc và giá trị văn hóa của trống trận Tây Sơn trong bối cảnh và nền tảng văn hóa trống Việt Nam.
  • Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): Tập trung chủ yếu tại tỉnh Bình Định, bao gồm Bảo tàng Quang Trung (thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn), các lò luyện võ truyền thống tại An Thái (thị xã An Nhơn), TP. Quy Nhơn, Nhà hát tuồng Đào Tấn; không gian các lễ hội liên quan như Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (Bình Định và Hà Nội), Lễ hội võ thuật cổ truyền quốc tế (Bình Định), Lễ hội trống và nhạc khí gõ quốc tế (Cố đô Huế); các làng nghề chế tác trống truyền thống gồm làng Lâm Yên (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) và làng Đọi Tam (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát diễn trình lịch sử từ thời kỳ khởi nghĩa Tây Sơn (thế kỷ 18) qua các biến thiên lịch sử đến đời sống đương đại; trọng tâm nguồn tài liệu nghiên cứu thành văn được tập hợp và phân tích chủ yếu từ sau năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành phân loại và điểm luận nguồn tư liệu nghiên cứu thành các nhóm chuyên mục cụ thể:

Nhóm tài liệu lý thuyết và phương pháp luận

  • Công trình của GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2006); giáo trình của GS. Trần Quốc Vượng (chủ biên, 2006).
  • Chuyên khảo của GS. Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam (2004), cung cấp các thao tác luận giải về cấu trúc bản sắc và tính khúc xạ văn hóa.
  • Các nghiên cứu của GS. Ngô Đức Thịnh: Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập (2009) và Đàn đá và các nhạc khí gõ của các tộc người Nam Đông Dương (2008), làm nền tảng định hình khái niệm bản sắc, giá trị văn hóa và văn hóa nhạc khí gõ.
  • Công trình của PGS. Kiều Trung Sơn: Cồng chiêng Mường (2011), cung cấp phương pháp tiếp cận cấu trúc văn hóa âm nhạc dân gian và kỹ thuật diễn tấu bộ gõ.
  • Chuyên khảo của Đinh Hồng Hải: Nghiên cứu biểu tượng, một số hướng tiếp cận lý thuyết (2014), cung cấp khung phân tích giải mã biểu tượng văn hóa.

Nhóm tài liệu lịch sử, địa bàn và thân thế Vua Quang Trung

  • Công trình Bình Định đất võ trời văn (2008) của Đinh Văn Liên; kỷ yếu và các ấn phẩm của Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định (2004) về văn học nghệ thuật đề tài Quang Trung - Nguyễn Huệ; tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái (Nguyễn Đức Vân dịch, 1987) phục vụ việc đối sánh cứ liệu lịch sử chiến trận (hồi thứ 14).
  • Bài báo khoa học của NCS. Nguyễn Bạch Mai: Hình tượng Vua Quang Trung – Nguồn cảm hứng sáng tạo các tác phẩm âm nhạc (2012).

Nhóm tài liệu chuyên biệt về trống, nhạc võ và nghệ thuật diễn tấu

  • Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Luận văn của Nguyễn Thanh Trung (2002) về Trống chiến trong tuồng Bình Định; luận văn của Nguyễn Bạch Mai (2006) về Trống trận Tây Sơn; luận văn của Nguyễn Văn Hiên (2014) về Nhạc võ Tây Sơn.
  • Các bài nghiên cứu, khảo cứu trên tạp chí và kỷ yếu: Đào Duy Kiền (2008) về Trống trận Quang Trung; Hà Sâm (1997) về Âm nhạc và trống võ Tây Sơn; Lê Viết Thọ (2005) về việc gìn giữ hồn trống trận Tây Sơn; Bùi Nguyên Pháp (1989); Võ Hinh (2008); Nguyễn Văn Chương (2005) về nghệ thuật đánh nhạc võ 45 trống.
  • Tài liệu về nghề chế tác trống: Công trình của Bùi Văn Vượng (1997) và đề tài khoa học cấp Viện của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2003) về Làng nghề làm trống Đọi Tam.

Nhóm tài liệu về các loại hình nghệ thuật liên quan (võ thuật, tuồng, bài chòi)

  • Võ thuật: Các công trình của Lê Thì (1999, 2000) về nguồn gốc và hệ thống bài thiệu võ cổ truyền Bình Định; sách Võ Bình Định – tuyển tập các bài quyền tay không và binh khí của Liên đoàn Võ thuật Bình Định (2014).
  • Tuồng và bài chòi: Công trình của Lê Yên (1994); Hồ Đắc Bích (1995); Đào Duy Kiền và Nguyễn Gia Thiện (2007) về Nhạc tuồng; các ấn phẩm của Hoàng Lê (1978, 2001) về âm nhạc dân ca và ca kịch bài chòi.
Nhóm tài liệu Tác giả tiêu biểu Phạm vi nội dung tham chiếu
Lý thuyết văn hóa và biểu tượng Phan Ngọc, Ngô Đức Thịnh, Đinh Hồng Hải, Trần Ngọc Thêm, Kiều Trung Sơn Khung lý thuyết bản sắc, hệ giá trị, văn hóa nhạc khí gõ và giải mã biểu tượng văn hóa
Lịch sử và địa bàn Bình Định Ngô Gia Văn Phái, Đinh Văn Liên, Sở VHTT Bình Định Bối cảnh lịch sử nhà Tây Sơn, thân thế Quang Trung, truyền thống văn hóa - võ học Bình Định
Trống và Nhạc võ Tây Sơn Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Văn Hiên, Nguyễn Thanh Trung, Đào Duy Kiền, Hà Sâm Cấu tạo nhạc cụ, bài bản âm nhạc, quy luật ngẫu hứng, vai trò trống chiến và nhạc võ
Nghệ thuật liên đới (Tuồng, Bài chòi, Võ) Lê Thì, Lê Yên, Đào Duy Kiền, Nguyễn Gia Thiện, Hoàng Lê, Liên đoàn Võ thuật Bình Định Sự tương đồng âm nhạc, niêm luật tiết tấu, kỹ thuật kích âm và hệ thống đòn thế võ cổ truyền

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận định các nghiên cứu trước đây gặp khó khăn do nguồn thư tịch thời Tây Sơn bị triều Nguyễn tiêu hủy phần lớn; các tài liệu dân gian thường mở đầu bằng hai chữ "tương truyền". Các công trình âm nhạc học trước đó chỉ phân tích bài bản âm nhạc hoặc cấu trúc giai điệu, bỏ ngỏ sự kết hợp giữa võ và nhạc. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp mối quan hệ bản chất này: làm sáng tỏ sự tích hợp của các đòn thế võ thuật cụ thể trong âm thanh và động tác trình diễn trống, thống nhất định danh khoa học "Trống trận Tây Sơn", và đặt bộ trống trong hệ thống lý thuyết "văn hóa trống" gắn với biểu tượng văn hóa địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết hệ thống: Luận án sử dụng Lý thuyết hệ thống tổng quát (General Systems Theory, 1968) của Ludwig von Bertalanffy làm phương pháp luận chủ đạo. Tác giả xem "Trống Việt Nam" là một hệ thống lớn với các thuộc tính chung về cấu trúc và chức năng; bản thân "Trống trận Tây Sơn" là một phân hệ gồm tổ hợp 12 trống chiến cùng các nhạc khí phụ trợ tương tác với môi trường diễn xướng văn hóa lễ hội.
  2. Lý thuyết bản sắc và giá trị văn hóa: Tiếp cận theo quan điểm của GS. Ngô Đức Thịnh và GS. Phan Ngọc. Bản sắc được định nghĩa là hệ thống các đặc trưng bản chất, bền vững được thể hiện qua các sắc thái văn hóa cụ thể; giá trị là tính ích dụng và sự đáp ứng nhu cầu nhân sinh, xã hội của các phẩm chất đó.
  3. Lý thuyết biểu tượng học: Dựa trên các luận điểm của Đinh Hồng Hải, định nghĩa văn hóa của UNESCO và nguyên lý "tượng" trong Dịch thuyết cương lĩnh của Chu Hy để xác lập tiêu chí trống trận Tây Sơn là một biểu tượng văn hóa kết tinh tinh thần thượng võ và truyền thống chống ngoại xâm.

Các định nghĩa cốt lõi do luận án xác lập

  • Văn hóa trống: Là tổng thể những giá trị, chức năng, đặc trưng nghệ thuật của trống; là cách ứng xử của con người đối với trống từ khi được chế tác, sử dụng đến những ảnh hưởng tương tác và sức sống lan tỏa trong môi trường diễn xướng, đáp ứng nhu cầu, mục đích khác nhau của đời sống cộng đồng.
  • Trống trận Tây Sơn: Là tên gọi định danh cho một dàn nhạc khí gồm bộ 12 trống chiến đóng vai trò chủ đạo, được biên chế cùng với trống chầu, kèn xô na, nhị, mõ, cồng và não bạt (chũm chọe); đồng thời hàm chứa ý nghĩa của nhạc phẩm Trống trận Quang Trung ca ngợi cuộc hành binh thần tốc giải phóng Thăng Long năm Kỷ Dậu (1789).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp định tính và kỹ thuật chuyên ngành:

  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ sử học, dân tộc nhạc học, văn hóa học, nhân học và xã hội học để phân tích đối tượng trong bối cảnh lịch sử - xã hội kéo dài hơn 200 năm.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham gia và ghi nhận thực địa: Sử dụng máy ảnh, camera để ghi hình thế võ và động tác múa trống; máy ghi âm để thu thanh tiết tấu; thước dây đo đạc kích thước thùng trống, mặt trống; thiết bị đo tần số âm thanh nhằm xác định độ cao và âm vực; tai nghe học thuật để ký âm các dị bản, bài bản diễn tấu.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, võ sư, nghệ sĩ và nghệ nhân chế tác trống.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đối chứng dữ liệu thư tịch với kết quả điền dã thực địa để phân tích cấu trúc bài bản âm nhạc và thao tác kỹ thuật của nghệ nhân.
Chuyên gia / Nghệ nhân phỏng vấn sâu Chức danh / Đơn vị công tác Nội dung dữ liệu khai thác
NSƯT. Đào Duy Kiền Nhà nghiên cứu VH dân gian, nguyên Chỉ huy dàn nhạc Nhà hát tuồng Đào Tấn Ký âm, chỉnh lý bài bản Trống trận Quang Trung; nghệ thuật sử dụng trống trong tuồng
Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện Nhà nghiên cứu văn hóa, Nhạc sĩ sáng tác Phương pháp huấn luyện diễn tấu 12 trống cho các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp
PGS. Nhạc sĩ Hà Sâm Tác giả công trình khảo cứu Trống võ Tây Sơn Nguồn gốc môn "Cổ" trong võ thuật Tây Sơn và cấu trúc bài bản nhạc võ
Võ sư Đinh Văn Tuấn Nguyên Chủ tịch Liên đoàn Võ thuật Bình Định Kỹ thuật và tư liệu diễn tấu dàn võ trống 45 chiếc thời xưa
Võ sư Trần Duy Linh Phó Chủ tịch Trung tâm Võ thuật cổ truyền Bình Định Hệ thống thế võ, đòn tay, bài quyền Tây Sơn tích hợp trong biểu diễn
Giảng viên Hồ Minh Mộng Hùng Giảng viên ĐH Quy Nhơn, CLB Võ thuật cổ truyền Tác động của võ cổ truyền Bình Định đến thể lực và kỹ năng vận động
Nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận Nghệ nhân diễn tấu tại Bảo tàng Quang Trung (36 năm nghề) Kỹ thuật kích âm bộ 12 trống, quy trình biểu diễn thực tế và truyền thống gia đình
Võ công Phan Thị Cẩm Mai Võ công biểu diễn tại Bảo tàng Quang Trung Kỹ thuật múa trống (võ hình), thế tấn và sự phối hợp âm thanh - hình thể

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài, phân tích bối cảnh lịch sử - văn hóa của vùng đất Bình Định và vai trò của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ đối với sự hình thành môn "Cổ" (võ trống) thời Tây Sơn. Tác giả khảo sát các nguồn tư liệu xuất bản từ sau năm 1789 và đặc biệt là sau năm 1975, chỉ ra những hạn chế của các công trình đi trước trong việc giải quyết mối liên hệ giữa võ học và âm nhạc học.

Trên cơ sở đó, chương 1 xây dựng khung lý thuyết dựa trên Lý thuyết hệ thống (Ludwig von Bertalanffy), lý thuyết bản sắc và hệ giá trị văn hóa (Ngô Đức Thịnh, Phan Ngọc), cùng lý thuyết biểu tượng học (Đinh Hồng Hải). Tác giả xác lập định nghĩa khoa học cho các thuật ngữ: Văn hóa trống, Trống trận Tây Sơn, Bản sắc văn hóa trống trận Tây Sơn, Giá trị văn hóa trống trận Tây Sơn; đồng thời biện luận khoa học để đề xuất sử dụng thống nhất tên gọi "Trống trận Tây Sơn" thay thế cho các cách gọi mang tính bộ phận trước đây (Trống võ Tây Sơn, Nhạc võ Tây Sơn, Trống trận Quang Trung).

Chương 2: Trống trận Tây Sơn trên nền cảnh văn hóa trống Việt Nam

Chương 2 định vị trống trận Tây Sơn trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa trống Việt Nam. Tác giả phân tích các đặc tính cơ bản của trống Việt Nam (phong phú về thể loại, độc đáo về màu âm, linh hoạt trong phương thức thể hiện và tinh xảo trong chế tác) thông qua việc phân loại các nhóm trống: trống đồng, trống sấm, trống cái, trống chầu, trống chiến, trống bản. Tác giả khảo sát các chức năng văn hóa của trống: chức năng thông tin - tín hiệu, chức năng nghi lễ - tâm linh, chức năng biểu cảm nghệ thuật và chức năng trợ chiến trong quân sự.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| BỘ NHẠC KHÍ TRONG DÀN NHẠC TRỐNG TRẬN TÂY SƠN (TẠI BẢO TÀNG QUANG TRUNG)      |
+---------------------+-----+---------------------------------------------------+
| Tên nhạc khí        | SL  | Vai trò, đặc điểm diễn tấu                        |
+---------------------+-----+---------------------------------------------------+
| Bộ trống chiến      | 12  | Giữ vai trò chủ đạo, xếp 3 hàng theo Tam tài      |
| Trống chầu (cổ trung)| 01  | Đánh điểm nhịp, giữ khung tiết tấu chính          |
| Kèn xô na           | 01  | Diễn tấu giai điệu, âm sắc đanh vang              |
| Não bạt (chũm chọe) | 01  | Hòa âm tiết tấu, tăng cường tính xung trận        |
| Mõ                  | 01  | Phối hợp đệm nhịp cùng người biểu diễn trống chính|
| Cồng                | 01  | Tạo âm hưởng trầm hùng, mô phỏng tiếng súng pháo  |
| Đàn nhị             | 01  | Hỗ trợ giai điệu (thực tế diễn tấu ngoài trời giảm)|
+---------------------+-----+---------------------------------------------------+

Chương 2 mô tả chi tiết nhân sự diễn tấu tại Bảo tàng Quang Trung gồm: 2 nghệ sĩ thay phiên diễn tấu bộ 12 trống và mõ (Nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận và Võ công Phan Thị Cẩm Mai), 1 nhạc công trống chầu (Hồ Sĩ), 1 kèn xô na (Phan Văn Thức), 1 não bạt (Dương Thị Hương), 1 cồng (Nguyễn Xuân Hổ). Ngoài Bảo tàng Quang Trung, bộ trống trận còn được biên chế tại Nhà hát tuồng Đào Tấn, Đoàn Ca Múa Nhạc Sao Biển (Phú Yên), Đoàn Ca Múa Nhạc Bông Sen (TP. Hồ Chí Minh), đội văn nghệ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định và một số cơ sở tại Đắk Lắk, Canada, Pháp. Chương này cũng phân tích kỹ thuật chế tác trống qua khảo sát làng nghề Lâm Yên (Quảng Nam) và Đọi Tam (Hà Nam).

Chương 3: Bản sắc văn hóa trống trận Tây Sơn – Nghệ thuật võ trong nhạc

Đây là chương trọng tâm giải mã bản sắc cốt lõi của trống trận Tây Sơn thông qua nguyên lý nghệ thuật kép "võ trong nhạc".

  1. Bản sắc qua nghệ thuật âm nhạc:

    • Kết cấu bộ 12 trống: Gồm 12 chiếc trống chiến có đường kính và chiều cao khác nhau, độ căng mặt da khác nhau, được xếp thành 3 hàng theo thuyết Tam tài (Thiên - Địa - Nhân). Mỗi trống tương ứng với một con giáp trong Thập nhị chi (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), tạo nên thang âm độc đáo trải dài trong khoảng 2 quãng tám.
    • Đặc trưng bài bản: Nhạc phẩm dân gian hoàn chỉnh gồm 3 hồi (Sắp):
      • Hồi 1: Tập hợp quân – Xuất quân (trước đây gọi là Sắp đổ chiêu).
      • Hồi 2: Xung trận – Phá thành (Sắp lơi, Sắp nhặt hay Sắp loạn thinh).
      • Hồi 3: Khải hoàn ca (Sắp khải hoàn hay Sắp kết).
      • Bản nhạc hoàn toàn không có hồi lui quân, phản ánh lịch sử quân sự bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung. Công lao phục dựng bài bản này thuộc về nghệ sĩ Văn Bá Anh (Năm Ngưu) từ thập niên 1960-1965.
  2. Bản sắc qua nghệ thuật võ trong nhạc:

    • "Võ thanh" được hiển thính trong "tiếng trống": Sự biến hóa của 4 âm thanh chính và 4 âm thanh phụ cùng kỹ thuật kích âm (đánh mặt da, đánh tang gỗ, bịt mặt trống, miết dùi) tạo nên bức tranh âm thanh mô phỏng chiến trận, tiếng hò reo, tiếng hỏa nổ, gươm giáo.
    • "Võ hình" được hiển thị trong "múa trống": Thân pháp, bộ pháp, thủ pháp của người diễn tấu thực chất là các thế võ cổ truyền Tây Sơn được nâng cấp thành ngôn ngữ múa. Nghệ nhân sử dụng đôi dùi trống như song đoản côn hoặc song kiếm, luân chuyển linh hoạt giữa các thế tấn (đinh tấn, trung bình tấn, trảo mã tấn) để bao quát diễn tấu trọn vẹn 12 chiếc trống xung quanh mình.

Chương 4: Giá trị văn hóa trống trận Tây Sơn – Gắn kết giao thoa, cảm hứng sáng tạo và sức sống lan tỏa

Chương 4 luận giải hệ giá trị của trống trận Tây Sơn trên ba bình diện:

  1. Gắn kết giao thoa với nghệ thuật truyền thống Bình Định:

    • Với Tuồng (Hát bội): Tiếp thu hệ thống tiết tấu, điệu thức và kỹ thuật kích âm của trống chiến trong tuồng; chia sẻ bài bản kèn xô na (bài Chiêu xuân).
    • Với Bài chòi: Tương đồng về biên chế nhạc khí gõ và nhịp điệu dân ca khu 5, tạo sự gần gũi trong không gian diễn xướng dân gian.
    • Với Võ thuật: Trống trận Tây Sơn vừa là nhạc nền khích lệ võ sinh tập luyện, vừa là một môn phái võ học thực thụ (môn Cổ).
  2. Nguồn cảm hứng sáng tạo trong âm nhạc đương đại:

    • Thể loại thanh nhạc: Cung cấp chất liệu âm điệu, mô-típ tiết tấu cho nhiều ca khúc viết về đề tài Tây Sơn - Quang Trung của các nhạc sĩ đương đại.
    • Thể loại khí nhạc: Âm hình chủ đạo của trống trận Tây Sơn được đưa vào các tác phẩm giao hưởng, giao hưởng thơ (tiêu biểu như Giao hưởng thơ Cuộc hành quân thần tốc của chính NCS. Nguyễn Bạch Mai năm 1997 tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam).
  3. Sức sống lan tỏa trong lễ hội và tâm thức cộng đồng:

    • Khảo sát tần suất xuất hiện dày đặc của trống trận Tây Sơn trong Lễ hội chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Lễ hội Võ thuật quốc tế Bình Định, chương trình Khát vọng trẻ lần thứ 9 (2015), cùng các sự kiện chính trị - xã hội tại địa phương.
    • Luận chứng sự chuyển hóa của trống trận Tây Sơn từ một công cụ quân sự thế kỷ 18 trở thành biểu tượng văn hóa thiêng liêng, đại diện cho tinh thần thượng võ và bản sắc của người dân Bình Định.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng và định hình khái niệm "Văn hóa trống" trên cơ sở vận dụng Lý thuyết hệ thống, tạo ra một hướng tiếp cận lý thuyết mở có thể áp dụng cho việc nghiên cứu các hệ thống nhạc cụ gõ truyền thống khác tại Việt Nam và khu vực.
  • Giải quyết sự bất đồng về thuật ngữ bằng việc đề xuất thống nhất tên gọi khoa học "Trống trận Tây Sơn", làm rõ nội hàm bao quát cả về mặt cấu trúc nhạc cụ (bộ 12 trống), biên chế dàn nhạc và tác phẩm âm nhạc lịch sử.
  • Xác lập khung lý thuyết luận giải mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba phạm trù: Bản sắc văn hóa - Giá trị văn hóa - Biểu tượng văn hóa đối với một thực thể di sản phi vật thể.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Phát hiện và giải mã bản chất nghệ thuật kép "võ trong nhạc" của trống trận Tây Sơn; chỉ ra các đòn thế võ thuật thời Tây Sơn được hiển thính qua âm sắc và hiển thị nguyên dạng qua bộ pháp, thân pháp múa trống của võ công - nghệ nhân.
  • Khảo sát, đo đạc và hệ thống hóa toàn diện kết cấu vật lý, thang âm 2 quãng tám của bộ 12 trống chiến xếp theo thuyết Tam tài và Thập nhị chi, cấu trúc 3 hồi khúc thức của tác phẩm Trống trận Quang Trung.
  • Cung cấp tư liệu điền dã chuẩn xác về kỹ thuật diễn tấu, quy trình chế tác trống tại làng Lâm Yên và Đọi Tam, làm cơ sở xây dựng giáo trình đào tạo nhạc công, võ công tại các trường nghệ thuật và trung tâm bảo tồn di sản.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đưa nội dung nghiên cứu và bài bản diễn tấu trống trận Tây Sơn vào chương trình giảng dạy chuyên môn tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật của tỉnh Bình Định và khu vực miền Trung.
  • Thành lập cơ chế bảo tồn nghệ nhân, có chính sách đãi ngộ cụ thể đối với các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ kỹ thuật diễn tấu độc đắc (như trường hợp nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận).
  • Chuẩn hóa quy cách chế tác bộ 12 trống chiến theo đúng thông số âm học truyền thống để phục vụ công tác biểu diễn chuyên nghiệp và giao lưu văn hóa quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về tư liệu lịch sử thành văn: Do chính sách truy quét, tiêu hủy văn hóa phẩm thời Tây Sơn dưới triều Nguyễn, nguồn sử liệu gốc về quá trình hình thành ban đầu của dàn nhạc 45 trống và 72 bài bản võ nhạc cổ xưa bị phân tán hoặc thất truyền; nghiên cứu phải dựa nhiều vào phương pháp hồi cố và lời kể nghệ nhân dân gian.
  • Tính bất biến của ghi chép âm nhạc: Do phương thức diễn tấu dân gian mang tính truyền khẩu ("chuyền tay") và có dung sai ngẫu hứng cao giữa các nghệ nhân, việc ký âm và chuẩn hóa phân phổ tổng thể cho dàn nhạc vẫn gặp những rào cản kỹ thuật nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Luận án mở ra hướng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn hóa trống trận Tây Sơn với các hệ thống trống trận, trống lễ hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á; đồng thời ứng dụng khung lý thuyết "văn hóa trống" để nghiên cứu các bộ trống đặc thù của các tộc người thiểu số tại vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Văn hóa Dân gian, Dân tộc học, Dân tộc nhạc học và Âm nhạc học sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trình diễn dân gian và kỹ thuật điền dã liên ngành.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng làm tài liệu giảng dạy trong các học phần Văn hóa Việt Nam, Di sản văn hóa phi vật thể, Nghệ thuật truyền thống miền Trung.
  • Cơ sở đào tạo nghệ thuật và nghệ sĩ biểu diễn: Cung cấp tài liệu bài bản, quy chuẩn cấu trúc bộ 12 trống cho Nhà hát tuồng Đào Tấn, các đoàn nghệ thuật dân tộc và các câu lạc bộ võ thuật cổ truyền.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định và các bảo tàng tham khảo căn cứ khoa học để xây dựng hồ sơ di sản, quy hoạch không gian biểu diễn lễ hội và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Dàn nhạc Trống trận Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung gồm những nhạc khí nào và nhân sự được biên chế ra sao?

Dàn nhạc gồm bộ 12 chiếc trống chiến đóng vai trò chủ đạo cùng các nhạc cụ: 1 trống chầu (cổ trung), 1 kèn xô na, 1 não bạt (chũm chọe), 1 mõ, 1 cồng và 1 đàn nhị (thực tế diễn tấu ngoài trời hiện nay chỉ chuyên dùng cồng). Nhân sự diễn tấu gồm 6 thành viên: Nghệ nhân Nguyễn Thị Thuận và võ công Phan Thị Cẩm Mai thay phiên nhau diễn tấu 12 trống và mõ; Hồ Sĩ (trống chầu); Phan Văn Thức (kèn xô na); Dương Thị Hương (não bạt); Nguyễn Xuân Hổ (cồng).

2. Bộ 12 trống chiến được cấu tạo và sắp xếp theo quy tắc nào?

Bộ 12 trống chiến có kích thước đường kính, chiều cao và độ căng mặt da khác nhau để tạo ra các cao độ riêng biệt không trùng nhau, bao quát âm vực trong khoảng 2 quãng tám. Trống được sắp xếp thành 3 hàng theo thuyết Tam tài: Thiên – Địa – Nhân. Mỗi chiếc trống mang tên một con giáp trong Thập nhị chi (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), đồng thời tên con giáp cũng chính là quy ước định danh cung bậc âm thanh của chiếc trống đó.

3. Tác phẩm âm nhạc "Trống trận Quang Trung" gồm những hồi nào và tại sao không có hồi lui quân?

Tác phẩm gồm 3 hồi (Sắp):

  • Hồi 1: Tập hợp quân – Xuất quân (tên cổ: Sắp đổ chiêu).
  • Hồi 2: Xung trận – Phá thành (Sắp lơi, Sắp nhặt hay Sắp loạn thinh).
  • Hồi 3: Khải hoàn ca (Sắp khải hoàn hay Sắp kết). Tác phẩm hoàn toàn không có hồi lui quân bởi xuất phát từ thực tế lịch sử quân sự của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ luôn chỉ huy quân đội tấn công thần tốc và bách chiến bách thắng.

4. Mối quan hệ "võ trong nhạc" của Trống trận Tây Sơn được biểu hiện qua hai yếu tố nào?

Nghệ thuật kép "võ trong nhạc" được biểu hiện qua hai yếu tố tương ứng:

  • "Võ thanh" hiển thính trong tiếng trống: Kỹ thuật gõ dùi vào các vị trí mặt da, vành trống, tang gỗ tạo nên âm thanh mô phỏng tiếng súng hỏa hổ, binh khí giáp chiến, voi gầm và khí thế xung trận.
  • "Võ hình" hiển thị trong múa trống: Toàn bộ thân pháp, bộ pháp di chuyển theo các thế tấn (đinh tấn, trung bình tấn, trảo mã tấn) và thủ pháp đánh dùi của võ công - nghệ nhân tuân thủ nghiêm ngặt theo các bài quyền, bài roi, song kiếm của võ thuật cổ truyền Tây Sơn.

5. Vì sao tác giả luận án đề xuất thống nhất tên gọi là "Trống trận Tây Sơn"?

Theo diễn trình lịch sử, bộ trống có 4 tên gọi: Trống võ Tây Sơn (nghiêng về luyện võ), Nhạc võ Tây Sơn (phương pháp dùng âm thanh trợ thế luyện binh), Trống trận Quang Trung (tên nhạc phẩm ca ngợi chiến thắng Kỷ Dậu 1789) và Trống trận Tây Sơn. Tên gọi "Trống trận Tây Sơn" (xuất hiện từ 1989) có tính bao quát cao nhất: định danh trọn vẹn cả cấu trúc vật chất của bộ 12 trống cùng dàn nhạc, khái quát được chức năng lịch sử trong quân sự - nghi lễ, phản ánh hào khí của nghĩa quân Tây Sơn và được cộng đồng xã hội thừa nhận rộng rãi nhất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Bản sắc và giá trị văn hóa trống – Trống trận Tây Sơn của tác giả Nguyễn Bạch Mai là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về một di sản âm nhạc - võ thuật độc đáo của vùng đất Bình Định. Bằng việc kết hợp phương pháp luận Lý thuyết hệ thống với các kỹ thuật điền dã dân tộc nhạc học và phỏng vấn sâu nghệ nhân, luận án đã xác lập thành công khung lý thuyết "Văn hóa trống" và giải mã bản chất nghệ thuật kép "võ trong nhạc". Công trình không chỉ đóng góp luận cứ khoa học để khẳng định trống trận Tây Sơn là biểu tượng văn hóa tiêu biểu của đất võ Bình Định mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác bảo tồn, đào tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.