Chương 1 TỒNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Địa bàn nghiên cứu Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của vương quốc Chăm Pa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Nơi đây còn được coi là mảnh đất địa linh - nhân kiệt, sinh ra người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, cũng là quê hương của nhiều danh nhân – hào kiệt nổi tiếng như: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Đăng Lâm, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát, Quách Tấn.
Bình Định còn nổi tiếng bởi truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển. cùng với các lễ hội như lễ hội chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi. “Đất thiêng“- Bình Định, đã sinh ra nhiều bậc “hiền tài“, kiệt xuất nhất là Quang Trung – Nguyễn Huệ, người khởi nguồn sáng tạo bộ môn nghệ thuật trống trận Tây Sơn, từ mục đích ban đầu là luyện binh và xung trận. Nghiên cứu bản sắc và giá trị của trống trận Tây Sơn trên nền cảnh văn hóa trống Việt không thể không nhắc đến truyền thống và tiềm năng về văn hóa nghệ thuật ở Bình Định.
Và Vua Quang Trung - Người đã sáng tạo ra bộ môn nghệ thuật trống độc đáo chỉ có ở Bình Định. Trống trận Tây Sơn ở Bình Định Trống trận Tây Sơn có lịch sử hình thành hơn 200 năm. Theo diễn trình văn hóa, trống trận Tây Sơn có nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào chức năng của nó trong từng hoàn cảnh, giai đoạn lịch sử. Trống trận Tây Sơn có vị trí, vai trò rất quan trọng và hiện đang được sử dụng với tần xuất cao trong hầu hết các hoạt động văn hóa nghệ thuật ở Bình Định.
12 Trống trận Tây Sơn luôn có sự gắn kết, giao thoa, cộng hưởng với các loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được coi là “cái nôi“ ở Bình Định: tuồng, bài chòi, võ Tây Sơn và có sự tương tác ảnh hưởng, sức sống lan tỏa trong đời sống văn hóa Bình Định. Hiện tại, trống trận Tây Sơn đang được trình diễn cùng với võ thuật hàng ngày tại bảo tàng Quang Trung, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định phục vụ khách thăm quan, du lịch nội địa và Quốc tế. Tính đến thời điểm này, số lượng dàn nhạc trống trận Tây Sơn trên toàn quốc không nhiều. Bảo tàng Quang Trung, Tây Sơn, Bình Định chỉ có 2 bộ 12 trống, một bộ biểu diễn chính thức và một bộ dự trữ với số lượng biên chế các nhạc công, võ công đảm trách các nhạc khí như sau: Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Thuận và võ công Phan Thị Cẩm Mai, hai nghệ sĩ này thay phiên nhau trình tấu bộ 12 trống chiến.
Khi một người biểu diễn chính, người kia sử dụng mõ; Hồ Sĩ – trống chầu; Phan Văn Thức – kèn xô na; Dương Thị Hương – não bạt (chũm chọe, chập chõa); Nguyễn Xuân Hổ - đàn nhị và cồng (trong nhiều năm nay, không thấy đàn nhị được trình diễn bởi, một mặt tinh giản biên chế, mặt khác âm sắc của đàn nhị tương đối giống kèn xô na, nhưng theo chúng tôi, điều cơ bản ở chỗ, đàn nhị âm lượng yếu, không hiệu quả khi trình diễn ngoài trời), hiện tại, chỉ đảm trách chuyên trình tấu nhạc khí cồng. Trống trận Tây Sơn còn được biên chế trong một số đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp như: Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định); Đoàn Ca Múa Nhạc Sao Biển (Phú Yên); Đoàn Ca Múa Nhạc Bông Sen (Tp. Hồ Chí Minh). Ngoài ra, trống trận Tây Sơn còn có mặt tại một số địa điểm khác như, đội văn nghệ của Bộ chỉ huy quân sự các lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định, một làng quê tại Buôn Đôn tỉnh Đaklak, và một vài Việt Kiều ở Canada, Pháp cũng lưu hành bộ trống này để biểu diễn phục vụ bà con đang cư trú tại Hải ngoại.
Hiện nay ở Bình Định, trống trận Tây Sơn không chỉ được trình diễn trong các lễ hội truyền thống, giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế mà còn được trình diễn trong rất nhiều các sự kiện văn hóa nghệ thuật được tổ chức ở Bình Định như, gần đây nhất, là chương trình “Khát vọng trẻ“ lần thứ 9 mang chủ đề “Hào khí Xuân Đất Võ“ diễn ra tối 21/3/2015 tại quảng trường trung tâm tỉnh Bình Định, chào mừng kỉ 13 niệm 40 năm ngày giải phóng Bình Định do tỉnh Đoàn Bình Định và Báo Thanh niên phối hợp tổ chức. Không những thế, trống trận Tây Sơn còn có mặt trong nhiều hoạt động, sự kiện khác như lễ khởi công, khánh thành một công trình trọng điểm, trong giao lưu phục vụ khách thăm quan du lịch khi lưu trú tại khách sạn. Hoàng đế Quang Trung – thân thế sự nghiệp và những ảnh hưởng đến việc hình thành dòng võ Tây Sơn Thượng đạo và nghệ thuật trống trận Tây Sơn * Vài nét về thân thế, sự nghiệp của Quang trung Nguyễn Huệ Căn cứ trên nhiều sử liệu đều ghi chép rằng, tổ bốn đời của Nguyễn Huệ đã vào lập nghiệp ở đất Tây sơn từ giữa thế kỉ 17. Thuở ấy trong dòng người di cư có cả những người bị bắt trong những lần quân của chúa Nguyễn, chúa Trịnh đánh nhau ở hai bên bờ sông Gianh, sông Lam, phần lớn được đưa dồn vào hai phủ Quảng Ngãi, Quy nhơn.
Các dòng người đó quần tụ lại xung quanh trung tâm Châu Thành rồi tỏa ra nhiều hướng. Trong những dòng người đó có anh con trai làng Thái Lão huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ Tĩnh – đó là Hồ Kế Viêm kế đến là Hồ Phi Khang, Hồ Phi Phúc rồi đến nhà anh em Nguyễn Huệ là những người thuộc chi họ Hồ lập nghiệp ở phủ Quy nhơn. Thời gian đầu họ Hồ định cư ở làng Phú Lạc sau thuộc tổng Phú Phong. Khoảng nửa đầu thế kỉ 18 gia đình ông Hồ Phi Phúc ra chợ Kiên Mĩ mở cửa hàng buôn bán.
Cây me già trước sân bảo tàng Quang Trung và giếng nước bên điện thờ Tam kiệt có từ thuở đó. Trong một thời gian dài, gia đình Nguyễn Huệ vẫn còn hai cơ ngơi bề thế trong vùng. Ông bà nội và những người thân vẫn ở bên Phú Lạc làm ruộng, cha mẹ và các anh em ra Kiên Mĩ mở quán bán hàng. Anh em Nguyễn Huệ lớn lên trong sự sung túc của gia đình vừa nông vừa thương ấy.
Tuy Phú Lạc đã dần sầm uất và Kiên Mĩ đã trở thành trung tâm vùng đất mới, việc học hành còn ít, vì thế anh em Nguyễn Huệ phải xuống tận làng An Thái huyện An Nhơn để học. Thầy giáo Trương Văn Hiến, một nhà Nho đương thời, từng chứng kiến sự đổ nát trong nội bộ phủ chúa ở Phú Xuân chạy về đây còn mang bao nỗi bất bình. Ông không thể không san xẻ cho môn sinh của mình những dòng suy tư và một niềm mong ước ấp ủ: “Văn không võ thì thường nhu nhược, võ mà không văn 14 thì thường tàn bạo” – lời dạy bảo này đã ảnh hưởng rất lớn đến khí phách, thân thế sự nghiệp của Nguyễn Huệ. Trong số học trò được thầy giáo Hiến ưa thích và gửi gắm niềm tin mai sau có anh em Nguyễn Huệ.
Dưới ách thống trị của quyền thần Trương Phúc Loan – chuyên quyền mua quan bán tước ở Nam Hà, lộng hành ở Bắc Hà, nạn phe đảng ngày càng mâu thuẫn sâu sắc. Nhân dân lao động từ lâu là đối tượng của sự bóc lột phong kiến nay lại càng điêu đứng hơn. Họ bị xô đẩy vào cuộc tranh chấp, chém giết lẫn nhau, trăm đường thống khổ. Thực tế xã hội đó với những điều giáo huấn của người thầy giàu nhiệt huyết đã bừng lên ngọn lửa bất bình trong anh em Hồ Thơm (tên Nguyễn Huệ lúc thiếu thời).
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn – Nguyễn Huệ (1771-1789) đánh tan quân xâm lược nhà Thanh là từ phong trào nông dân phát triển thành phong trào dân tộc với khẩu hiệu “đánh đổ chế độ hà khắc, cát cứ của các tập đoàn phong kiến trong nước và quân phong kiến xâm lược nước ngoài giành độc lập và thống nhất Tổ quốc”, và với khẩu hiệu “lấy của người giàu chia cho người nghèo” đã cổ vũ nông dân và các tầng lớp dân nghèo nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào thế kỷ 18 đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa 2 tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, lật đổ nhà hậu Lê. Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược của Xiêm La từ phía Nam, của Đại Thanh (Trung Quốc ở phương Bắc). Những chiến thắng vang dội của nhà Tây Sơn đều gắn với tên tuổi Nguyễn Huệ, như đánh Gia Định thành bắt 2 Chúa Nguyễn (1777); chiến thắng 5 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút (1785); hạ thành Phú Xuân (1786); tiến đánh Thăng Long (1786); thắng 29 vạn quân nhà Thanh trận Ngọc Hồi – Đống Đa (1789).
Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ còn gọi là Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ 2 của Nhà Tây Sơn (lên ngôi từ năm 1788-1792 sau Hoàng đế Nguyễn Nhạc), là nhà chính trị tài giỏi, nhà quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những chiến công dẹp loạn trong nước, chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào, được mệnh danh là người “Anh hùng áo vải“. 15 Về tổ chức quân đội, ngay sau chiến tranh, Quang Trung có ý thức tranh thủ thời gian xây dựng một lực lượng quân đội hùng mạnh, trước mắt là nhằm trấn áp các thế lực đối kháng trong nước, nhất là Nguyễn ánh lúc bấy giờ đã chiếm lại được Gia Định và đang tấn công Nguyễn Nhạc và nguy cơ nhà Thanh có thể phục thù. Tổ chức và biên chế quân đội thời Quang Trung gồm: thủy binh, bộ binh và tượng binh, kỵ binh, pháo binh. Chiến thuyền gồm nhiều loại, có loại lớn chở được voi chiến, trang bị 50 – 60 đại bác và với 500 – 700 binh sĩ.
Về vũ khí, ngoài giáo mác, cung tên… quân đội của Quang Trung còn được trang bị súng trường, đại bác gắn trên thuyền hoặc đặt trên mình voi và hỏa nổ (một loại ống phun lửa lợi hại) [40]. Khi đánh quân Thanh, quân đội của Quang Trung được chia làm 5 cánh (trung, tiền, hậu, tả, hữu) với trên 10 vạn quân và vài trăm voi chiến.