đặt vấn đề cho các nhà ngữ học quan tâm nghiên cứu về vai trò của từ nối trong phép nối. Theo hai tác giả này, khi xem xét phép nối “phải dựa trên mối quan hệ về nghĩa giữa chúng và cái theo sau được kết nối một cách hệ thong với cái di trước”. Các tac giả cũng đã khảo sát, thống kê, miêu tả và phân tích một số liên từ cơ bản có vai trò thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa của phép nối. Người đầu tiên nghiên cứu kĩ về phép nối ở cả bình diện hệ thống và cau trúc chính là J.
Công trình English Text — System and Structure (Văn bản tiếng Anh — Hệ thống và Cấu trúc, Amsterdam, 1992) đã được tac giả tiến hành nghiên cứu văn bản tiếng Anh trên bình diện hệ thống — cấu trúc. Với việc khảo cứu và phân tích sự biểu hiện của các phép liên kết, tác giả đã đặc biệt lưu ý tới sự nối kết văn bản qua phép nối (có các từ nối hiện diện). Dựa trên các ngữ liệu được phân tích, cũng như căn cứ vào các từ nối xuất hiện trong và ngoài phát ngôn, có hai dạng thức nối được tác giả phân biệt: nói bên trong (internal relations) và noi bén ngoài (external relations) theo các quan hệ bổ sung (addictive relations), nhân quả (consiquential relations), so sánh (comparative relations), thoi gian (temporal) và định vị (locative relations). Lan đầu tiên, từ nối được “cấp” cho một chức năng chi dấu và định vị phạm vi liên kết văn bản.
Năm 2000, công trình “English Grammar - An Introduction” (Tác giả: Peter Collins và Carmella Hollo) được tái bản. Quyền sách gồm hai phần Grammatical Decription (Mô tả ngữ pháp) va Looking at language in context (Xem xét ngôn ngữ trong ngữ cảnh). O phan thứ 2, mục Cohesion — Liên kết và Analysis of Cohesion in sample texts — Phân tích phép liên kết trong những văn bản tiêu biểu, van dé liên kết va phép nối đã được tác giả đề cập đến. Theo hai tác giả, các loại phép liên kết ở cấp độ vĩ mô có: deictic (trực chi), generic (loại thé) và logical signposts (dau hiệu logic).
Còn các loại liên kết: dong sở chỉ (co-reference), thay thé (substitution) và tinh lược (ellipsis) ở cấp độ vi mô. Qua các công trình của các nhà ngôn ngữ học trên thé giới thì phép nối tuy không được nghiên cứu rộng rãi nhưng so với các phép liên kết khác thì đã đạt được những kết quả đáng chú ý. Đây có thể xem là nền tảng quan trọng về mặt lí luận dé có thé tiến hành nghiên cứu phép nối theo các mối quan hệ khác nhau, tức là những kiểu loại ý nghĩa khác nhau về phạm trù phản ánh trong các văn bản, ngôn bản cụ thể. Tình hình nghiên cứu về văn bản và phép nỗi ở trong nước Có thể nói, vào năm 1973, hai tác giả Nguyễn Tài Cẩn và N.
Stankevich đã phần nào đưa ra ý tưởng nghiên cứu các đơn vị trên câu, trong bài viết “Góp thêm một số ý kiến về hệ thống các đơn vị ngữ pháp” (4, 15). Nhưng người có vai trò tiên phong và đóng góp nhiều tâm huyết và công sức nhất phải ké đến là Tran Ngọc Thêm. Năm 1985, qua công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” ông đã trình bày một cách hệ thống, đầy đủ về những vấn đề lí thuyết của Ngôn ngữ học Văn bản và được vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt. Một trong những tac giả có đóng góp quan trọng vào những thành tựu của ngôn ngữ học văn bản không thể không nhắc đến là Diệp Quang Ban.
Ông đã có rất nhiều bài báo, chuyên luận viết về lĩnh vực này. Chang hạn: “ Văn ban và liên kết trong tiếng Việt, 1998; Giao tiếp - Van bản - Mach lạc - Liên kết - Đoạn văn, 2002. 10 Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Xuân Thại (1998), Phạm Văn Tình (1983, 2002), Lương Đình Dũng (2005), Lương Đình Khánh (2006), Bùi Văn Năm (2010). Cùng với đó là những luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề liên kết trong văn bản như: Phạm Thu Trang (2001), Dương Thị Bích Hạnh (2003), Thái Thị Như Quỳnh (2013), Nguyễn Thị Thu (2014), Lê Thị Thùy Linh (2015), Võ Thị Hường (2017), Nguyễn Thị Tố Hoa (2021).
Người được coi là đầu tiên, đánh dấu mốc cho sự phát triển mới về nghiên cứu ngữ pháp văn bản và các phép liên kết trong đó có phép nối phải kế đến là Tran Ngọc Thêm (1985, 1999, 2001. Công trình “Hệ thong liên kết trong văn bản tiếng Việt” đã đi sâu nghiên cứu các khía cạnh của văn ban cả từ phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa của phép nối. Trần Ngọc Thêm phân loại các phương thức liên kết căn cứ vào “đơn vị mà chúng liên kết (các phát ngôn hiện diện trên văn bản). Từ đó, tác giả chia ra 3 loại chính: 1) các phương thức liên kết chung, bao gồm: phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính; 2) các phương thức liên kết hợp nghĩa, bao gồm: phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng; 3) các phương thức liên kết trực thuộc, bao gồm: phép tỉnh lược mạnh, phép nối chặt”.
Tác giả cũng đã đưa ra ba nhận xét, trong đó: “các phương thức liên kết chung có độ liên kết yếu nhất”; “Các phương thức liên kết hợp nghĩa có độ liên kết đã khá mạnh”; “Các phương thức liên kết trực thuộc là những phương thức liên kết cực mạnh ” [38, tr. O đây, phép nối có sự phân biệt. Từ đó, phép nối đã được Trần Ngọc Thêm phân ra làm hai loại: phép nối lỏng và phép nối chặt. Tác giả đã phân chia phép nối lỏng dựa trên phương thức liên kết hợp nghĩa và phát ngôn hợp nghĩa còn phép nối chặt dựa trên phương liên kết của ngữ trực thuộc.
Có thé nói, trong “Hé thong liên kết văn bản tiếng Việt”, Trần Ngọc Thêm đã tập trung mô tả phép nối (trong đó 11 tiêu điểm là các từ nối) với những biểu hiện đa dang, sinh động của nó. Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa về phép nối (nói chung) bằng cách chỉ ra quan hệ và mô hình (hay cấu trúc) của phép nối: “Hiện tượng nói liên kết có dạng của một quan hệ hai ngôi a R b, trong đó (a, b) là cặp phần tử được sắp thứ tự (. Ở đây, R là phương tiện noi. Phương tiện noi R có hai chức năng: chức năng liên kết và chức năng ngữ nghĩa (goi tên, định loại quan hệ”.
203) Tiếp đó, Diệp Quang Ban, trong công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” (Nxb Giáo dục, 1998) đã nghiên cứu rộng và kĩ tới một loạt van đề mà Ngôn ngữ học Văn bản quan tâm: văn bản, đoạn văn, liên kết, mạch lạc. Trong việc phân chia phép nối ở cấp độ vĩ mô, giống với kết qua phân chia của Trần Ngọc Thêm, tác giả cũng chia phép nối thành hai loại lớn: phép nối lỏng và phép nối chặt. Phép nối còn được dé cập đến trong công trình “Dung học Việt ngữ” của tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2007). Tuy không mô tả một cách chi tiết và ti mi nhưng tác giả đã chỉ ra 4 loại quan hệ: đồng hướng hay bổ sung, ngược hướng, nhân qua và thời gian — trình tự với những vi dụ rất dé hiểu và điển hình.
Ông cũng dùng khái niệm hồi chỉ (anaphoric) và khứ chỉ (cataphoric) để xem như là một phương thức liên kết văn bản độc lập. Đặc biệt, theo Nguyễn Thiện Giáp: “Trong tiếng Việt, không những các liên từ được dùng để nối mà cả những cụm từ cũng được dùng trong chức năng này. Thí dụ: với lại, thêm vào đó, ngoài ra, tương tự, một mặt thì, mặt khác thì, tóm lại, hay là, ấy là chưa kế, nếu như, với lý do, với điều kiện, trong hoàn cảnh, ngay lập tức, lúc đó, trên đây, sau đó, v.178] Từ ngữ nối còn được đề cập đến trong một loạt các bài báo, bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành và hội thảo khoa học. Các từ ngữ nối đã được nghiên cứu ở những khía cạnh và mức độ khác nhau, tạo nên một “bức tranh” 12 từ ngữ nối vô vùng phong phú và đa dang.
Ngoài ra, và cũng rất đáng chú ý là hiện nay xuất hiện nhiều nghiên cứu so sánh đối chiếu phép nối trong tiếng Việt với tiếng Anh. Điển hình là các nghiên cứu của một số tác giả như: Ngô Thị Bảo Châu (2009), Bùi Văn Năm (2010), Nguyễn Thị Thanh Hà (2011), Nguyễn Thị Hoa (2011), Nguyễn Thi Hoàng Huế (2012), Nguyễn Thị Tổ Hoa (2021). Tuy có những thành công nhất định nhưng đa số các công trình này mới chỉ đối chiếu các phép nối nói chung, còn cụ thé từng nhóm từ nối thì chưa được khai thác triệt dé. Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nhận diện, mô tả đặc điểm cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa chứ chưa thực sự nghiên cứu chuyên sâu dé có những cái nhìn toàn diện hơn trong việc đối chiếu phép nối.
Hiện nay, các nhóm từ nối tiếng Việt theo từng phạm trù đang dần được quan tâm nhiều hơn. Có thé đề cập đến những nghiên cứu về cặp từ nối theo phạm trù hợp — tuyển của tác giả Thái Thị Như Quỳnh (2013), theo pham tru tương phản - nhượng bộ của Nguyễn Thị Thu (2014), theo phạm trù tương phản của Vũ Thị Huyền Trang (2014), v. Trên cơ sở lí thuyết chung về từ nối, từ liên kết, các tác giả đã có những giới thuyết căn bản về từ nối tiếng Việt, mở đường cho nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo. Ngữ pháp Văn bản và những vẫn đề liên quan 1.
Văn bản và tính liên kết - Các khái niệm cần yếu: văn bản, phát ngôn, câu, tính liên kết, mạch lạc Van ban (text) được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng chúng ta cũng có thé hiểu văn bản một cách đơn giản như sau “Van bản là một sản phẩm dưới hình thức là một diễn ngôn xuất hiện một cách rất tự nhiên ở dạng nói và dạng viết hoặc có những sự được biểu hiện bằng cứ chỉ, được nhận dạng dưới những mục đích bằng phân tích. Trong mỗi chỉnh thể về một ngôn ngữ với mỗi chức năng giản tiép khác nhau vi dụ như một cuộc hội thoại, một tac pham van 13 học, một mâu chuyện nhỏ, một vài những văn bản hành chính." Ta có thê hình dung khái niệm về văn bản qua sơ đô sau: câu x. ee (phat > câu > đoạn van | —> van ban ngôn) Phát ngôn (utterance) là đơn vi cơ bản, đơn vi hạt nhân cua giao tiếp ngôn ngữ (trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết), được tạo nên trong một hoàn cảnh cụ thể, mang một nội dung tương đối sẽ trọn vẹn.