CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP CỦA NỮ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp của nữ học sinh 1. Một số lí thuyết và mô hình tâm lý trong nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp Bản chất của giá trị nghề nghiệp được đề cập trong công trình của C. Seng (Đại học TamKang Đài Loan) là những giá trị khác nhau tùy thuộc vào tính chất và vị thế của nghề nghiệp.
Giá trị nghề nghiệp phù hợp sẽ tối đa hóa lợi ích cho cá nhân và xã hội (Đỗ Thị Bích Loan, 2017). Giá trị nghề nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới nghề nghiệp, trong một bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, thông qua sự đánh giá về nghề nghiệp của chủ thể. Giá trị nghề nghiệp là những đặc điểm của nghề (đối tượng, nội dung, phương thức, sản phẩm lao động, lương bổng,…) được chủ thể phản ánh, cho là có ý nghĩa, có lợi ích với chủ thể đó (cá nhân, nhóm, cộng đồng) về một phương diện nào đó. Cá nhân khi đã lựa chọn giá trị nghề phù hợp, nó sẽ trở thành động lực bên trong thúc đẩy hoạt động của chủ thể (Mạc Văn Trang, 2014).
Cơ sở tâm lý học của việc định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh chính là những khác biệt cá nhân. Mỗi cá nhân là một cá thể độc đáo, riêng biệt, duy nhất và không có sự lặp lại. Chính vì thế, mỗi cá nhân có định hướng giá trị riêng biệt phù hợp với quan điểm sống, các điều kiện khách quan (gia đình, bạn bè,…) của mình. Nghiên cứu về định hướng giá trị chú ý sâu sắc vào các nét cá tính, đặc điểm nhân cách của mỗi con người để có hướng đào tạo, sử dụng, phát triển và ứng xử phù hợp.
Định hướng giá trị nghề nghiệp là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu đưa ra cả về lý thuyết và thuật ngữ, và ứng dụng thực tiễn. Về mặt lý thuyết, định hướng giá trị nghề nghiệp được thể hiện trong một số các lý thuyết trong các lý thuyết được khái quát hóa như sau (Bernier, 2009; Nguyễn Hồng Phấn, 2017): 1) Platonov cho rằng mỗi cá nhân muốn tìm kiếm một công việc/nghề nghiệp phù hợp cần phải quan tâm tới các yếu tố, bao gồm các đặc điểm và yêu cầu việc 11 làm trong xã hội, nhu cầu nguồn nhân lực trên thị trường lao động và các đặc điểm cũng như các đặc điểm tâm lý sinh học của cá nhân. Nếu công việc được tìm thấy khớp với ba khía cạnh này thì sẽ tối ưu và cá nhân thực hiện nó đạt đến các giá trị nghề nghiệp thích hợp. Quan điểm này của ông được sử dụng làm nền tảng trong việc hình thành cấu trúc về mặt lý thuyết cho những nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp của người học.1: Tam giác hướng nghiệp của Platonov 2) Thuyết lựa chọn nghề của Tiến sĩ tâm lý John Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới như: Áo, New Zealand, Canada, Hà Lan, Thụy Sĩ, Italia… và được đánh giá rất cao về tính chính xác trong việc khám phá, lựa chọn ngành, nghề phù hợp tính cách của bản thân.Theo tiến sĩ tâm lý John Holland, có 6 nhóm sở thích nghề nghiệp tương ứng với các loại ngành nghề khác nhau trong xã hội nhưng có quan hệ với nhau.
Lý thuyết đó chia con người ra 6 loại cá tính và thường được viết tắt là RIASEC và được gọi là Mã Holland (Holland codes): (1) Thực tế – Realistic, (2) Nghiên cứu – Investigative, (3) Nghệ thuật – Artistic, (4) Xã hội – Social, (5) Kinh doanh - Enterprise, (6) Công chức – Conventional. Thuyết Holland không giả định rằng một người chỉ có một trong 6 loại tính cách trên thế giới. Thay vào đó, ông chỉ ra rằng bất kỳ người nào cũng có thể được mô tả bằng việc dung hòa một trong 6 loại tính cách theo thứ tự giảm dần. Trên cơ sở này Bộ quy tắc Holland đã diễn tả 720 mô hình tính cách khác nhau của con người.
Học thuyết này cũng áp dụng trong việc phân loại nghề, nhưng thường thì chỉ có 2 hoặc 3 quy tắc chi phối được sử dụng để định hướng nghề.2: Mô hình tính cách RIASEC của John Holland Realistic (R): Còn được gọi là “người thực hiện”, những người thuộc loại này giải quyết vấn đề bằng cách hành động thay vì thảo luận về nó. Các nghề nghiệp thuộc loại thực tế quan tâm đến công việc đòi hỏi kỹ năng và sức mạnh như thợ mộc, đầu bếp và huấn luyện viên cá nhân đều phù hợp với kiểu tính cách thực tế này. Điều tra (I): Còn được gọi là “người tư duy”, những người thuộc loại này thích làm việc với thông tin. Các loại nghề về điều tra, làm việc một mình hơn là với một nhóm như chuyên gia tính toán, luật sư và bác sĩ đều phù hợp với kiểu tính cách này.
Artistic (A): Còn được gọi là “người sáng tạo”, người thuộc loại này là người sáng tạo và thường có cảm xúc mãnh liệt hơn. Các nghề nghiệp thuộc loại hình nghệ thuật, các nhà thiết kế đồ họa, nhà văn và nhạc sĩ đều phù hợp. Xã hội (S): Còn được gọi là “người trợ giúp”, người thuộc loại này thích dạy hoặc giúp đỡ người khác. Những người thuộc nhóm này cảm thấy mình có giá trị khi làm việc với những người khác và tạo mối quan hệ, các nghề như giáo viên, cố vấn và chuyên gia nhân sự đều phù hợp với kiểu tính cách xã hội.
Enterprising (E): Còn được gọi là “những người thuyết phục”, những người thuộc loại này thích làm việc với mọi người và thích tiếp cận với nhiều thông tin. Các doanh nhân, môi giới chứng khoán và nhân viên bán hàng đều phù hợp với kiểu tính cách dám nghĩ dám làm. Thông thường (C): Còn được gọi là “ban tổ chức”, những người thuộc nhóm tính cách này thường tuân theo các quy tắc và quy định, quan tâm các giá trị về địa 13 vị và tiền bạc. Tuy nhiên, họ không thích công việc không rõ ràng hoặc không có cấu trúc.
CEO, nhà hoạch định tài chính cá nhân và nhà kinh tế phù hợp với kiểu tính cách này. 3) Lý thuyết học tập xã hội được phát triển bởi Albert Bandura cho rằng một động cơ và hành vi của một cá nhân dựa trên kinh nghiệm. Trong phát triển nghề nghiệp, lý thuyết học tập xã hội giúp giải thích làm thế nào một người có thể thiết lập kế hoạch phát triển nghề nghiệp của họ để thành công. Thông qua một cái nhìn tích cực về khả năng của chính họ và xung quanh họ với một mạng lưới cố vấn tích cực, một người có cơ hội tốt hơn để đạt được mục tiêu nghề nghiệp của họ.
Mô hình bộ ba đối ứng ngẫu nhiên Bandura (Bandura’s Triadic Reciprocal Model of Casualty). Mô hình này cho biết đầu ra của một người dựa trên hỗn hợp: Tính cách con người, Hành vi và hành động mà họ nhìn thấy từ người khác, yếu tố bên ngoài. Lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp (SCCT) hướng tới việc giải thích ba khía cạnh liên quan đến phát triển nghề nghiệp: (1) sự phát triển cơ bản của hứng thú học tập và nghề nghiệp diễn ra như thế nào; (2) cách lựa chọn giáo dục và lựa chọn nghề nghiệp được thực hiện như thế nào, và (3) làm thế nào đạt được thành công trong học tập và nghề nghiệp. Học thuyết sử dụng nhiều khái niệm (ví dụ: sở thích, khả năng, giá trị, yếu tố môi trường) xuất hiện trong các lý thuyết nghề nghiệp trước đó và đã được tìm thấy có ảnh hưởng phát triển sự nghiệp.
SCCT là lý thuyết phát triển dựa trên thuyết nhận thức xã hội nói chung của Albert Bandura. Lý thuyết này được phát triển bởi Robert W. Brown và Gail Hackett năm 1994. Ba biến được xác định trong thuyết này là niềm tin vào năng lực bản thân, sự kỳ vọng vào kết quả đạt được và mục tiêu (Lent, 2017).
4) Donald Super (1992) xây dựng lý thuyết phát triển của mình trên ý tưởng rằng quan điểm về bản thân thay đổi. Thời gian và kinh nghiệm giúp định hình cách một người coi trọng sự nghiệp và mục tiêu họ đặt ra. Lý thuyết này định nghĩa một nghề nghiệp của người là toàn bộ cuộc đời của một người. Ông cho rằng sự phát triển nghề nghiệp thành năm giai đoạn: 14 Hình 1.3: Cầu vồng nghề nghiệp cuộc đời – Quản trị stress của Donald Super - Tăng trưởng (Growth): Giai đoạn này bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục đến tuổi 14.
Một người phát triển ý thức về bản thân và thái độ đối với công việc. - Khám phá (Exploration): Giai đoạn này bắt đầu từ năm 15 tuổi và tiếp tục đến tuổi 25. Một người thử các con đường sự nghiệp khác nhau thông qua các lớp học, sở thích và công việc thực tế. - Thành lập (Establishment): Giai đoạn này bắt đầu ở tuổi 25 và tiếp tục đến tuổi 44.
Một người phát triển kỹ năng công việc cấp đầu vào và phát triển kinh nghiệm làm việc. - Bảo trì (Maintenance): Giai đoạn này bắt đầu ở tuổi 45 và tiếp tục đến 64 tuổi. Một người thay đổi các yếu tố trong sự nghiệp để cải thiện vị trí của họ. - Từ chối (Decline): Giai đoạn này bắt đầu ở tuổi 65.
Một người giảm số lượng công việc họ làm và chuẩn bị cho nghỉ hưu. Super tin rằng mọi người tìm thấy sự hài lòng nghề nghiệp dựa trên quan điểm của họ về bản thân ở mỗi năm giai đoạn phát triển này. Ví dụ, một người có thể coi trọng sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống trong giai đoạn bảo trì của họ hơn là trong giai đoạn thành lập. Sự nghiệp có thể giống nhau, nhưng thời gian và kinh nghiệm thay đổi cách người đó cảm nhận nghề nghiệp của họ.
Các lý thuyết nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu hướng tới việc phân tích sự biến đổi trong định hướng giá trị của học sinh tới vai trò quyết định tới các lựa chon nghề nghiệp của cuộc đời. 15 Các mô hình lí thuyết nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp nhìn chung đều tập trung vào sự khác biệt của mỗi cá nhân về tính cách, hứng thú, sở thích, năng lực học tập… từ đó nhận thức được bản thân phù hợp với các giá trị nghề nghiệp.