PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nước ta đang trong giai đoạn đổi mới giáo dục, từng bước phát triển các lĩnh vực đào tạo ra các nhân tài là những kỹ sư, bác sĩ, những người thợ không chỉ có tay nghề cao, mà còn phải có tư duy sáng tạo, có khả năng làm việc trong môi trường công nghiệp cao và có kỹ năng sống. Vì thế các trường trong cả nước đang tiến hành tham gia công cuộc đổi mới này, việc xây dựng chuẩn đầu ra nói chung, chuẩn kỹ năng nghề nói riêng cho các ngành nghề đào tạo là điều cấp thiết hiện nay, đó là bước đi đầu tiên cho bước tiếp theo là đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực tiển của các nhà sử dụng lao động, doanh nghiệp… Theo báo cáo về “ Tình trạng hộ sinh thế giới năm 2011 “ mỗi năm có 358.000 phụ nữ tử vong trong thời kỳ mang thai hay trong khi sinh đẻ, khoảng 2 triệu trẻ sơ sinh qua đời trong 24 giờ đầu tiên và có 2,6 triệu trường hợp thai chết lưu, và Việt Nam là 1 trong 58 nước chiếm 91% số ca tử vong mẹ trên toàn cầu – tất cả vì sự yếu kém và thiếu thốn của dịch vụ y tế [ 5 ]. Ngoài ra, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon đã nói “ Để đảm bảo rằng mọi phụ nữ và trẻ sơ sinh được tiếp cận các dịch vụ hộ sinh có chất lƣợng chúng ta cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa để tiếp tục xây dựng trên những gì chúng ta đã đạt được ở cộng đồng, quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới “ [ 5 ].
Trong buổi hội nghị này, Ông Bruce Campbell, Trưởng đại diện Quỹ dân số liên hiệp quốc ( UNFPA ) cho rằng “ Nếu không có thêm cán bộ hộ sinh, một lực lượng chính trong những người đỡ đẻ có kỹ năng và không tăng cường cho họ các kỹ năng lâm sàng để đảm bảo họ đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế thì sẽ còn những ca tử vong tiếp tục xãy ra với các phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh… “ Và cũng theo báo cáo của của dự án này trong một điều tra đánh giá có gần 40% người đỡ đẻ chưa có đủ các kỹ năng cần thiết [ 15 ]. Vì thế Bộ Y tế, Vụ sức khỏe sinh sản đã đề ra kế hoạch hành động tăng cường người đỡ đẻ có kỹ năng 2011-2015 nhằm giảm tỷ lệ chết mẹ và sơ sinh. Ngoài ra hệ thống đào tạo hộ sinh cao đẳng 3 năm trên cả nước mới bắt đầu năm 2008 và Trường Cao đẳng y tế Đồng Nai là trường thứ 2 mở khóa đầu tiên năm 2010. Vì vậy việc xây dựng chuẩn đầu ra nói chung, chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh cao đẳng nói 1 Luan van riêng là cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai nói riêng, cho cả nước nói chung, giúp cho các nhà sử dụng lao động không phải đào tạo lại, các em khi ra trường cũng tự tin khi làm việc độc lập ở các cơ sở y tế địa phương, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh theo kế hoạch hành động quốc gia 2011-2015 về chăm sóc sức khỏe sinh sản của Vụ sức khỏe bà mẹ trẻ em, Bộ y tế đề ra.
Chính vì những lý do trên tác giả mong muốn “xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh cao đẳng ” nhằm nâng cao trình độ người đỡ đẻ có kỹ năng đáp ứng nhu cầu xã hội và làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với kỹ năng ngành nghề đòi hỏi yêu cầu. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.
Đối tượng nghiên cứu - Qui trình xây dựng chuẩn kỹ năng nghề. - Các tiêu chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh cao đẳng. Khách thể nghiên cứu - Người hộ sinh đang làm việc ở các cơ sở y tế (Bệnh viện, Trung tâm sức khỏe sinh sản.Tỉnh Đồng Nai ). - Người quản lý làm việc trong các cơ sở y tế Tỉnh Đồng Nai.
- Giảng viên bộ môn sức khỏe sinh sản Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề.2 - Khảo sát thực trạng về đào tạo năng lực nghề hộ sinh tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai.3- Khảo sát thực trạng nhu cầu của thị trường lao động về năng lực hành nghề hộ sinh của Tỉnh Đồng Nai.4- Xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU. Do quy mô và thời gian có hạn nên người nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu xây dựng chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh dựa trên cơ sở phân tích nghề, nhu cầu lao động trong Tỉnh Đồng Nai và quá trình đào tạo hộ sinh cao đẳng của trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp nghiên cứu lý luận. Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu được công bố, sách báo, tạp chí khoa học, các văn bản pháp quy,… để phân tích, chọn lọc, vận dụng vào đề tài một cách lôgic và khoa học. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp phân tích nghề DACUM. - Phương pháp điều tra – phỏng vấn để thu thập thông tin thực tế về kỹ năng nghề hộ sinh cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. - Phương pháp chuyên gia, tham khảo ý kiến của các chuyên gia ở các cơ sở y tế, trung tâm sức khỏe sinh sản, các giáo viên chuyên ngành về năng lực hành nghề cần thiết của người lao động nghề hộ sinh cao đẳng về bảng phân tích nghề, về lượng giá các kỹ năng, về bộ tiêu chuẩn kỹ năng … - Phương pháp thống kê, phân tích – định lượng kết quả được khảo sát. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU.
Nếu bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề hộ sinh cao đẳng được áp dụng để đào tạo ở trường Cao đẳng y tế Đồng Nai thì sẽ góp phần làm cơ sở đánh giá người học,đánh giá chương trình đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và các cơ sở y tế sử dụng người hộ sinh có cơ sở trong tuyển dụng người lao động. 3 Luan van PHẦN 2 : PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN KỸ NĂNG NGHỀ HỘ SINH. Khái niệm các thuật ngữ.
Nghề (Job): - Là tất cả công việc mà con người làm có ý nghĩa, có mục đích, có tên gọi, có tổ chức và có giá trị đối với con người, xã hội hay một nền văn hóa. - Là nhóm công việc có cùng các nhiệm vụ, trách nhiệm phổ biến, làm ra sản phẩm hay công việc phục vụ và hoặc có những đặc điểm của người lao động. - Công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội, được xã hội chấp nhận. Theo tính chất lao động nghề gồm: o Nghề sản xuất: Tạo ra vật chất cho xã hội gồm các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, sản phẩm nông, công nghiệp hiện đại (nghề điện, nghề hàn…).
o Nghề dịch vụ: Gồm nghề sửa chữa và phục vụ các dịch vụ văn hóa, y tế, xã hội, kinh tế (nghề dạy học, nghề điều dưỡng, hộ sinh,…). Từ các khái niệm nghề của tự điển Việt Nam, Wikipedia,. Nghề là một nhóm công việc tay chân hay trí não thường xuyên, có cùng nhiệm vụ, trách nhiệm làm ra sản phẩm hay phục vụ trong nhiều lĩnh vực. Nghề nghiệp phát triển theo sự phát triển và phân công của xã hội.
Kỹ năng ( Skill ) - Theo Pear ( 1927 ) [ 29 ] Kỹ năng là sự tích hợp hoạt động tốt của cơ bắp. - Theo Welford (1968 )[ 29 ] Kỹ năng là sự kết hợp các yếu tố năng lực, thực hiện thành thạo, nhanh, chính xác, và cũng như là có sự cân bằng khả năng áp dụng hoạt động tay chân và trí tuệ. - Proctor and Dutta ( 1995 )[ 29 ] kỹ năng có mục tiêu trực tiếp, có hành vi tổ chức tốt mà đòi hỏi qua thực hành và thực hiện với nổ lực tối thiểu. Vậy kỹ năng là sự kết hợp của hoạt động tay chân, giác quan, trí tuệ và mức độ thực hành thao tác các hoạt động đó.
4 Luan van Năng lực ( Competence ) - Khái niệm về năng lực có nhiều bàn cải như Mangham ( 1986) [ 29 ] Năng lực có thể liên quan đến mẫu người, mẫu kết quả, hình mẫu giáo dục và đào tạo cũng như là những tiêu chí , tiêu chuẩn để đánh giá. - Hartle (1995)[ 29 ] Năng lực là một đặc tính của một cá nhân mà nó cho thấy thực hiện tốt công việc bao gồm những năng lực nhìn thấy được của kiến thức và kỹ năng và những yếu tố năng lực bên trong. - Sternberg và Kolligian ( 1990) Staudel ( 1987 )[ 29 ] chia năng lực thành 3 thành phần : o Năng lực Heuristic : Hệ thống các mong đợi tổng quát liên quan đến hiệu quả của khả năng của một người qua những tình huống khác nhau- tự khái niệm tổng quát. o Năng lực nhận thức luận: Sự tin tưởng và tự tin mà một người có những kỹ năng và kiến thức đặc biệt trong lĩnh vực của họ nắm vững các nhiệm vụ và những vấn đề trong lĩnh vực đặc biệt của họ.
o Năng lực thực tiễn: Sự tự tin mà một người sở hữu những khả năng, kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong việc học và thực hiện tình huống. - Weiner ( 2001) [ 29 ] đưa ra các mức độ năng lực : o Khả năng ( Ability ) o Biết ( Knowledge ) o Hiểu ( Understand ) o Kỹ năng ( Skill ) o Hoạt động ( Action ) o Kinh nghiệm ( Experience ) o Thúc đẩy ( Motivation ) 5 Luan van Vây Năng lực là khả năng chuyên biệt thực hiện một công việc trên nền tảng hiểu rõ về công việc đó ( kiến thức ), thành thạo trong các thao tác ( kỹ năng ) và xử lý được các tình huống khác nhau ( thái độ ) để bảo đảm thành công của người lao động ở nơi làm việc.