CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm về quản lí Trong bất kỳ một thể chế xã hội nào cũng cần có sự quản lí. Chính vì vậy mà những khái niệm về quản lý đã có từ rất lâu. Trong quá trình phân tích và ứng dụng người ta đã hiểu quản lý theo nhiều cách, dẫn đến việc đưa ra những định nghĩa khác nhau. Quản lí là một hệ thống xã hội tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến.
Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. Nhiều khái niệm về quản lí đã có từ những năm 5000 trước công nguyên. Từ năm 605 – 562 trước công nguyên ở một số nước đã biết sử dụng luật và các qui định để quản lý; biết sử dụng kiểm kê, đánh giá và áp dụng khoán trong quản lý. Trung Hoa cổ đại có nhiều đóng góp trong việc tổng kết và lý luận hóa thực tế quản lý.
Loài người đã, đang và sẽ đánh giá cao và không ngừng áp dụng lý thuyết của các trường phái quản lí mà đại diện là Khổng tử, Mạnh Tử; trong đó có trường phái quản lí dựa trên cơ sở pháp luật mà đại diện là Hàn Phi. Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H. Một số nhà nghiên cứu muốn phản ánh những nét đặc trưng của quản lý bằng nhiều cách như nhấn mạnh tính chất hay hình thức tác động, mục đích hay chức năng của quản lý đã đưa ra các định nghĩa sau: Theo sự phân tích của Marx thì quản lí là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó luôn gắn chặt với sự phân công và phối hợp. Song điều đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở tổ chức vì: “chức năng chủ yếu của quản lý là liên hợp, tháp hợp tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức đó là một chính thể” [8].
Hà Thế Ngữ và GS. Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[10]. Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động” [11].
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể nói rằng quản lý là một quá trình mang tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi vì trong mỗi lĩnh vực con người luôn điều chỉnh hoạt động của mình theo một phương thức nhất định, do đó: 1. Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm. Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các họat động của cấp dưới, của những người dưới quyền (thuộc quyền). Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển.
Quản lý là thực hiện mục tiêu của tổ chức thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (con người, tài chính, vật chất) v. Quản lý phải bao gồm hai yếu tố cơ bản là chủ thể và khách thể quản lý. Quản lý bao giờ cũng là những tác động hướng đích. Đó là những tác động được thực hiện một cách có ý thức nhằm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn đối với đối tượng nhận tác động.
Dưới những tác động này các đối tượng sẽ biến đổi theo các mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định. Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống. Quản lý là một hệ thống. Điều đó có nghĩa là quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định và cấu trúc đó có thể được mô tả như Sơ đồ 1.1 dưới đây: Chuû theå quaûn lyù Cô cheá quaûn lyù Muïc tieâu Khaùch theå quaûn lyù Sơ đồ 1.
Cấu trúc của hệ thống quản lý 1.1 Đặc điểm cơ bản của hệ thống quản lý 1. Quản lý là hoạt động có mục đích. Sự lựa chọn các thành phần cụ thể tạo nên hoạt động quản lý như một tổng thể. Có những quy định về mối liên hệ trong, ngoài.
Xác định cấu trúc của tổ chức để điều chỉnh các mối quan hệ. Đảm bảo thông tin các tuyến quan hệ trên dưới, ngang dọc, trong ngoài. Các bước thông qua quyết định và thực hiện quyết định quản lý. Bản chất và các chức năng của quản lý.
Bản chất của quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong giáo dục đó là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu giáo dục. Vậy bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý. Các chức năng của quản lý.
Theo Stonner và Freemance trong tác phẩm “Management” (quản lý) thì:“Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra” (Sonner và Freemance – Management, 1995). Nhiều tác giả đã phân loại chức năng quản lý thành 4 hoặc 5 loại nhưng nội dung cơ bản vẫn gồm 4 chức năng sau đây: 1) Lập kế hoạch 2) Tổ chức 3) Lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển 4) Kiểm tra Trong 4 chức năng trên thì chức năng tổ chức được coi là quan trọng nhất. Các chức năng của quản lý có thể được mô tả như sơ đồ 1.2 sau đây: Môi trường ngoài YÙ töôûng Laäp keá hoaïch Toå chöùc (2) hoaït (1) ñoäng thöïc teá Thöïc teá Laõnh ñaïo (3) hoaït Kieåm tra (4) ñoäng 7 quaûn lyù Sơ đồ 1. Các chức năng của quản lý Tóm lại quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con người.
Như chúng ta đã biết, thế giới xung quanh chúng ta thật bao la và phức tạp, có những điều chúng ta nhận biết ngay được nhưng có những điều chúng ta cần có thời gian để có thể nhận thức được một cách đầy đủ. Khi hiểu biết về thế giới xung quanh càng sâu sắc bao nhiêu thì khả năng tổ chức và điều chỉnh cuộc sống càng có hiệu quả và phục vụ lợi ích con người càng tốt bấy nhiêu. Qua mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của xã hội loài người, những họat động quản lý luôn tồn tại. Chúng chỉ khác nhau về mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp.
Tùy thuộc vào hình thái kinh tế nhất định những hoạt động này đều bị tác động và ảnh hưởng bởi tính chất chế độ xã hội và trình độ tăng trưởng trong quá trình sản xuất. Đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động quản lý có vai trò rất quan trọng. Nếu hoạt động quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản xuất, nâng cao lợi nhuận đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, tạo điều kiện cho tư duy sáng tạo phát triển về mọi phương diện. Ngược laiï, nếu hoạt động quản lý tồi không chỉ tác động hạn chế, ngăn cản sự phát triển kinh tế, xã hội mà còn dẫn đến tình trạng làm nghèo đi và làm chậm lại sự phát triển của đất nước, lãng phí sức người và của cải vật chất của tồn xã hội.
Giáo dục và quản lý giáo dục 1.1 Giáo dục Có lẽ “giáo dục phục vụ con người, phục vụ đời sống, vì hạnh phúc con người và sự phồn vinh xã hội” là một triết lý phổ quát nhất của giáo dục và được mọi người thừa nhận. Giáo dục xuất hiện khi có xã hội loài người, nhưng ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, tư tưởng này lại có những nội dung riêng của nó. Ở Việt Nam hiện nay giáo dục phải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xậy dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chuû, văn minh”. Tuy nhiên giáo dục cũng không phải chỉ quan tâm đến từng con người mà là toàn xã hội, do đó nói đến giáo dục cần phải lưu ý đến mục tiêu giáo dục.
Hai mục tiêu giáo dục chính yếu đó là mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách. Mục tiêu hệ thống nhằm hướng tới sự phồn vinh của cộng đồng, sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Mục tiêu nhân cách phải gắn với mục tieâu cuộc đời của mỗi người, mỗi thành viên xã hội.2 Quản lý giáo dục 1. Khái niệm về quản lý giáo dục Khi nghiên cứu về quản lý giáo dục, các nhà lý luận Xô Viết đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: quản lý giáo dục là taäp hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng.
Tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD- ĐT đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ. Nguyễn Ngọc Quang đã phát biểu: “Quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục là những khái niệm thống nhất. Nếu hệ thống giáo dục bao gồm toàn ngành giáo dục cả nước thì ta có quản lý ngành giáo dục với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục bao gồm các tổ chức giáo dục ở một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có: 1) Quản lý giáo dục cấp tỉnh, và 2) Quản lý giáo dục cấp huyện”.