chương 1, Dược lý học, tập 2. Bupivacain (Marcain, Sensorcain) Tac dụng gây tê tương tự lidocain, nhưng mạnh hơn, thời gian xuất hiện tác dụng chậm và duy trì lâu hơn, có thể kéo dài tới 12 giờ nếu được kết hợp với chất co mạch adrenalin hoặc noradrenalin. Vì vậy, bupivacain thích hợp cho các phẫu thuật kéo dài. Liều cao thuốc gây giãn cơ và ức chế vận động.
Chỉ định chủ yếu là gây tê dẫn truyền, gây tê tủy sống. Dung dịch 0,35%, 0,5% và 0,75%. Mepivacain (Carbocain) Tác dụng gây tê tương tự lidocain nhưng không gây tê bề mặt và yếu hơn lidocain khoảng 2 lần. Tác dụng xuất hiện nhanh hơn và kéo dài hơn.
Thuốc ít http://tieulun.org This is trial version www.com Đóng gop PDF boi GV. Nguyễn Thanh Tú WWW.COM/DA YKEM.QUYNHON gây giãn mạch nên khi gây tê có thể không cần dùng chất co mạch. Thuốc chủ yếu dùng gây tê tiêm thấm và gây tê dẫn truyền. Chế phẩm: ống 2mL dung dịch 1- 4% kèm glucose để gây tê tủy sống.
Liều dùng: 20- 80 mg tuỳ loại phẫu thuật và tuỳ vị trí gây tê. Etidocain (Duranest) Có thời gian tác dụng kéo dài hơn lidocain 2- 3 lần, hoạt tính gây tê mạnh hơn. Thường dùng gây tê tiêm thấm và gây tê dẫn truyền (không dùng gây tê tủy sống). Thuốc gây kích thích thần kinh trung ương, liều cao có thể gây co giật, nên không dùng cho bệnh nhân động kinh.
Prilocain (Citanest) Tương tự lidocain, như tác dụng chậm và kéo dài hơn. Thuốc được dùng nhiều trong nha khoa. Thuốc có thể gây methemoglobin. Ropivacain Hoạt lực tương tự bupivacain nhưng ít gây độc trên tim hơn.
THUỐC GÂY TÊ CÓ CẤU TRÚC KHÁC Fomocain: là phenylether, có tác dụng gây tê bề mặt kéo dài, hay được dùng để làm thuốc giảm dau trong khoa bỏng, loét do chiếu tia. Ethyl elorid (Kelen): nguyên là thuốc gây mê nhưng ức chế hô hấp và tuần hoàn mạnh nên không dùng để gây mê. Thuốc bốc hơi ở nhiệt độ thấp nên có tác dụng làm lạnh vùng da bị phun thuốc xuống -õ2°C, có tác dụng tê mạnh và ngắn. Chủ yếu dùng gây tê bề mặt để chích mụn nhọt, áp xe, giảm đau do chấn thương.
Pramoxin (Anusol, tronothan): 1a thuốc gây tê cấu trúc ether. Có tác dụng gây tê bể mặt. Thường dùng dạng nhỏ mắt, mũi. Dibucain (Nupercaina): 14 dẫn chất quinolin, do độc tính cao nên không dùng đường tiêm, chủ yếu dùng gây tê bề mặt.
Dyelonin (Dyclone): thời gian xuất hiện tác dụng và duy trì tác dụng tương đương procain. Hấp thu tốt qua da và niêm mạc nên thường dùng gây tê bề mặt.org This is trial version www.com Đóng gop PDF boi GV. Nguyễn Thanh Tú WWW.COM/DA YKEM.QUYNHON THUỐC AN THẦN - GÂY NGỦ 1. Khái niệm về thuốc an thần - gây ngủ Thuốc an thần - gây ngủ là thuốc ức chế thần kinh trung ương, Thuốc an thần có tác dụng giảm lo lắng, bổn chồn.
Thuốc ngủ tạo ra trạng thái buồn ngủ và duy trì giấc ngủ tương tự giấc ngủ sinh lý. Ở liều thấp, thuốc có tác dụng an thần, liều trung bình gây ngủ, liều cao gây mê, liều độc sẽ gây hôn mê và chết. Cơ chế Lác dụng Thuốc an thần - gây ngủ ức chế dẫn truyền ở tổ chức lưới của não giữa, làm giảm hoạt động của synap thần kinh chủ yếu bằng cách làm tăng hoạt tính của GABA va glycin - là các chất dẫn truyền loại ức chế, làm thuận lợi cho mở kênh CI' (các barbiturat, các benzodiazepin va zolpidem). Ngoài ra, các thuốc an thần - gây ngủ còn tác dụng theo một số cơ chế khác: kích thích receptor cua serotonin (buspiron), tic ché acid glutamic, khang histamin và ức chế kênh Na’.
Phân loại Dựa vào cấu trúc hóa học chia thành 3 nhóm: — Dẫn xuất của acid barbituric: phenobarbital, hexobarbital. — Dẫn xuất benzodiazepin: diazepam, nitrazepam. — Các dẫn xuất khác: buspiron, zolpidem, glutethimid.org This is trial version www.com Đóng góp PDF bởi GV. Nguyễn Thanh Tú WWW.COM/DA YKEM.
DAN XUAT CUA ACID BARBITURIC 2. Liên quan giữa cấu trúc và tác dụng BR Oc 2 5 CH \3. 47 NH——CO Hình 3. Công thức của acid barbituric Acid barbituric là acid mạnh, dễ phân ly, khó khuếch tấn qua màng sinh học nên không có tác dụng.
Khi thay hydro ở C; bằng các gốc R; và R¿, ta được dẫn xuất của acid barbituric (barbiturat). Barbiturat có tính acid yếu, ít phân ly, tan trong lipid và thấm qua màng sinh học, vào thần kinh trung ương, vì vậy có tác dụng an thần gây ngủ. Khi thay đổi cấu trúc, độ ion hóa và độ tan trong lipid của thuốc sẽ thay đổi, tốc độ xâm nhập và ái lực của thuốc với thần kinh trung ương cũng thay đối theo. Kết quả là gây ra sự khác nhau về cường độ tác dụng, thời gian tác dụng và thậm chí cả tác dụng.
Một số thay đổi về cấu trúc có liên quan đến tác dụng gồm: — Nếu chỉ thay một H ở C; thay bằng gốc R thì tác dụng gây ngủ yếu, nếu thay cả 2 H ở C; bằng 2 gốc R; và R„ thì tác dụng gây ngủ tăng. Tuy nhiên, nếu mạch C trong gốc R dài hơn ð Ơ, tác dụng gây ngủ lại giảm. — Nếu gốc R, và R¿ là mạch thẳng thì tác dụng bền hơn mạnh nhánh, mạch vòng. — Nếu R, và R¿ là các gốc no thì tác dụng yếu hơn gốc chưa no.
— Nếu 1 trong 2 gốc R; hoặc R; là gốc phenyl thì thuốc có thêm tác dụng chống co giật (phenobarbital) nhưng nếu cả R, và R„ đều là gốc pheny] thì tác dụng gây ngủ bị mất. — Ngoài ra, thay đổi một số vị trí khác của barbiturat cũng ảnh hưởng tới tác dụng của thuốc như: thay O ở C; bằng 8, hoặc thay H ở N, và N; bằng CH; sẽ tạo ra dẫn xuất có tác dụng gây mê nhanh, mạnh và ngắn (thiopental, hexobarbital). Phân loại Dựa vào thời gian tác dụng, chia các barbiturat thành 4 nhóm (bảng 3. Phân loại thuốc an thần gây ngủ dẫn xuất của acid barbituric Nhóm thuốc Thời gian tác dụng Thuốc điển hình Tac dựng dài 8-12giờ Phenobarbital, barbital, butabarbital, aprobarbital.
Tac dụng trung bình 4-8giờ Amobarbital, pentobarbital, heptabarbital, cyclobarbital. Tác dụng ngắn 1- 3 giờ Hexobarbital, secobarbital Tác dụng rất ngắn 30 - 60 phút Thiopental, thiobarbital, thialbarbital.org This is trial version www.com Đóng gop PDF boi GV. Nguyễn Thanh Tú WWW.COM/DA YKEM. Phenobarbital Được động học Phenobarbital hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, khi cần có thể tiêm tĩnh mạch.
Không nên tiêm dưới da và tiêm bắp vì gây đau và dễ hoại tử nơi tiêm. Sau khi uống thuốc khoảng 60 phút, xuất hiện tác dụng và duy trì được 8- 12 giờ. Phenobarbital liên kết với protein khoảng 50%, phân bố rộng vào các mô, đặc biệt là não, qua được nhau thai và sữa mẹ. Chuyển hóa ở gan bằng phản ứng hydroxy] hóa tạo chất chuyển hóa không có hoạt tính.
Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, tốc độ thải trừ phụ thuộc vào pH nước tiểu (pH nước tiểu giảm làm chậm thải trừ thuốc, tác dụng kéo dài và ngược lại). Tác dụng uà cơ chế - Trên thần kinh trung ương: phenobarbital có tác dụng ức chế thần kinh trung ương. Tùy thuộc vào liều lượng, thuốc có tác dụng an thần, gây ngủ, chống động kinh, chống co giật. + An thần (liều thấp): thuốc làm giảm lo lắng, bổn chồn, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, dễ dàng đi vào giấc ngủ.
+ Gây ngủ (liều trung bình): barbiturat tạo ra được giấc ngủ tương tự giấc ngủ sinh lý, nhưng có nhiều giấc mơ. + Chống động kinh (liều trung bình hoặc liều cao): thuốc có tác dụng chống động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm giác) do ức chế sự phóng điện quá mức ở não, đồng thời làm tăng ngưỡng đáp ứng của các nơ ron thần kinh trung ương với kích thích. Cơ chế: phenobarbital và các barbiturat có tác dụng ức chế thần kinh trung ương bằng cách tạo thuận lợi cho acid gama-amino - butyric (GABA) gắn vào receptor GABA (xem chi tiết ở phần dẫn xuất benzodiazepin). Ngoài ra, phenobarbital còn tăng cường chất dẫn truyền ức chế glycin và/ hoặc ức chế chất dẫn truyền kích thích là acid glutamic.
Ở nồng độ cao ức chế cả kênh Na'. — Tác dụng trên các cơ quan: + Ở liều điều trị, thuốc làm giảm nhẹ hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Ở liều cao, gây ức chế tim, hạ huyết áp, ức chế hô hấp, dễ gây rối loạn hô hấp (do làm giảm đáp ứng của trung tâm hô hấp với nồng độ CO,). Ngoài ra, còn làm giảm hoạt động cơ trơn, giảm chuyển hóa, giảm thân nhiệt, giảm sức lọc cầu thận, giảm bài niệu, trường hợp } nặng gây vô niệu.
+ Phenobarbital làm tăng cường tác dụng của các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác như: clorpromazin, thuốc gây mê, rượu và đối kháng với tác dụng kích thích thần kinh trung ương của strychnin, niketamid, pentetrazol.org This is trial version www.com Đóng gop PDF boi GV. Nguyễn Thanh Tú WWW.COM/DA YKEM.QUYNHON Chi dinh. — Co giật, động kinh cơn lớn, phòng co giật do sốt cao ở trẻ nhỏ — Tiển mê, — Các trạng thái thần kinh bị kích thích lo âu, căng thẳng. ~ Các trạng thái mất ngủ nặng (ít dùng).
— Tăng bilirubin huyết, vàng da ở trẻ sơ sinh. — Ngoài ra, phenobarbital còn được phối hợp với các thuốc khác để điều trị cơn đau thắt ngực, đau nửa đầu, nhồi máu não và một số rối loạn ở hệ thần kinh trung ương. Tác dụng không mong muốn uà độc tính ~ Tác dụng không mong muốn: Thường liên quan tới tác dụng ức chế thần kinh trung ương như buồn ngủ, ngủ gà, nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn, mất điều hoà động tác, rung giật nhãn cầu. Có thể gặp tác dụng nghịch thường: mất ngủ, kích thích, có cơn ác mộng, sợ hãi.
Các tác dụng không mong muốn khác gồm: rối loạn chuyển hóa porphyrin, dị ứng (mẩn ngứa, viêm da, viêm miệng.) giảm hông cầu, thiếu máu do thiếu acid folic. — Độc tính cấp: Thường gặp khi dùng liều cao gấp 5- 10 lần liều bình thường. Biểu hiện ngộ độc là ngủ sâu, mất phản xạ, hạ thân nhiệt, giãn đồng tử, trụy tim mạch, trụy hô hấp, hôn mê có thể tử vong. Xử trí: thải nhanh thuốc ra khỏi cơ thể (gây nôn, uống than hoạt, truyền dung dịch kiểm như NaHCO; 1,4%, thuốc lợi tiểu,.
Trợ hô hấp, tuần hoàn. — Độc tính mạn (quen thuốc): Thường gặp khi dùng thuốc kéo dài. Khi đã quen thuốc, nếu ngừng đột ngột sẽ gặp hội chứng cai thuốc: co giật, mê sảng, mất ngủ, đau cơ khớp. Xử trí ngộ độc mạn bằng cách giảm liều thuốc từ từ trước khi ngừng hẳn.
Chống chỉ định Suy hô hấp. Suy gan nặng. Rối loạn chuyển hóa porphyrin.