Nghiên cứu: Kiến thức dự phòng đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính tại BV 108

Nghiên cứu kiến thức và thực hành về dự phòng đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) ở người bệnh đang điều trị nội trú tại Bệnh viện 108.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài tốt nghiệp

2023

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) hay COPD là một bệnh lý hô hấp thường gặp, có thể phòng ngừa và điều trị được. Bệnh được đặc trưng bởi các triệu chứng dai dẳng và hạn chế đường thở do tiếp xúc lâu dài với hạt và khí độc hại. BPTNMT đã trở thành vấn đề sức khỏe công cộng toàn cầu với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Theo dữ liệu dịch tễ học, ước tính có khoảng 385 triệu người mắc BPTNMT trên thế giới, với dự báo tăng lên đến 5,4 triệu ca tử vong liên quan vào năm 2060. Tình hình bệnh ở Việt Nam cũng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các biện pháp dự phòng đợt cấp BPTNMT hiệu quả để giảm gánh nặng bệnh tật.

1.1. Định nghĩa và Đặc điểm Bệnh

BPTNMT là tình trạng mạn tính với giới hạn đường thở không hoàn toàn hồi phục. Bệnh phát triển từ sự phơi nhiễm lâu dài với các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ô nhiễm môi trường và tiền sử gia đình. Các triệu chứng chính bao gồm ho만성, khó thở và sản xuất đờm. Bệnh có thể tiến triển thành các đợt cấp nguy hiểm nếu không được quản lý và dự phòng đúng cách.

1.2. Tầm quan trọng của Dự phòng

Dự phòng đợt cấp BPTNMT đóng vai trò quan trọng trong giảm chi phí điều trị và tàn phế. Việc hiểu rõ kiến thức về bệnh, tuân thủ dùng thuốc và thay đổi lối sống giúp bệnh nhân kiểm soát triệu chứng hiệu quả. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh là chìa khóa để phòng chống đợt cấp và nâng cao chất lượng cuộc sống.

II. Yếu tố Nguy cơ và Triệu chứng Lâm sàng

Việc xác định các yếu tố nguy cơ BPTNMT giúp bệnh nhân chủ động phòng tránh. Yếu tố môi trường như ô nhiễm không khí, khí độc hại tại nơi làm việc kết hợp với yếu tố cơ địa như tuổi tác và tiền sử gia đình tạo thành môi trường lý tưởng để bệnh phát triển. Hút thuốc lá vẫn là nguyên nhân chính gây BPTNMT ở các nước đang phát triển. Các triệu chứng ban đầu thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các bệnh hô hấp thông thường, do đó nhận diện sớm các dấu hiệu BPTNMT là cần thiết.

2.1. Các Yếu tố Nguy cơ Chính

Yếu tố liên quan đến môi trường bao gồm khí thải ô tô, khói thuốc và ô nhiễm không khí trong nhà. Yếu tố cơ địa như tuổi tác (>40 tuổi), giới tính nam và tiền sử bệnh gia đình làm tăng nguy cơ mắc BPTNMT. Nghề nghiệp tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại cũng là nguy cơ quan trọng cần chú ý.

2.2. Biểu hiện Lâm sàng và Cận lâm sàng

Triệu chứng chính bao gồm ho kéo dài >3 tuần, khó thở khi gắng sức và sản xuất đờm. Bệnh nhân có thể cảm thấy kiệt sức và giảm sức cơ. Xét nghiệm chức năng phổi (spirometry) là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán BPTNMT, giúp đánh giá mức độ giới hạn đường thở chính xác.

III. Kiến thức Dự phòng Đợt cấp BPTNMT

Kiến thức dự phòng đợt cấp BPTNMT bao gồm hiểu rõ về bệnh, các yếu tố gây đợt cấp và cách nhận biết sớm những dấu hiệu cần can thiệp. Bệnh nhân cần nắm vững kỹ năng sử dụng thuốc xịt dự phòng đúng cách để kiểm soát viêm đường thở. Việc thực hiện giáo dục sức khỏe liên tục giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị dài hạn. Hiểu biết về các tác nhân gây đợt cấp như nhiễm trùng, thay đổi thời tiết và tiếp xúc với môi trường độc hại giúp phòng chống đợt cấp hiệu quả hơn.

3.1. Sử dụng Thuốc Dự phòng Đúng cách

Thuốc xịt dự phòng như corticosteroid và bronchodilator cần sử dụng định kỳ theo hướng dẫn. Bệnh nhân phải biết cách sử dụng inhaler chính xác, bao gồm kỹ thuật hít sâu và giữ hơi đúng thời gian. Tuân thủ liều lượng và thời gian dùng thuốc là yếu tố quyết định phòng chống đợt cấp BPTNMT thành công.

3.2. Thay đổi Lối sống và Các Biện pháp Không Dùng Thuốc

Bỏ hút thuốc lá là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong dự phòng BPTNMT. Tập luyện thể dục nhẹ nhàng, tránh ô nhiễm không khí và duy trì vệ sinh đúng cách giúp kiểm soát bệnh. Chủng ngừa cúm hàng năm và viêm phổi cầu khuẩn giảm nguy cơ nhiễm trùng gây đợt cấp.

IV. Thực hành Dự phòng Đợt cấp và Xử trí Khẩn cấp

Thực hành dự phòng đợt cấp BPTNMT đòi hỏi bệnh nhân phải chủ động theo dõi tình trạng sức khỏe hàng ngày. Bệnh nhân cần biết khi nào cần đi khám ngay, bao gồm khó thở tăng đột ngột, đờm có máu hoặc sốt cao. Việc lập kế hoạch hành động viết ra cho từng bệnh nhân giúp tăng cường kiến thức và thực hành phòng chống đợt cấp. Hỗ trợ gia đình và liên hệ y tế thường xuyên là chìa khóa thành công trong quản lý dài hạn.

4.1. Theo dõi Triệu chứng và Thời điểm Khám Bệnh

Bệnh nhân nên theo dõi triệu chứng hàng ngày bằng cách ghi chép thay đổi khó thở, ho và sản xuất đờm. Đi khám định kỳ mỗi 3-6 tháng giúp đánh giá mức độ kiểm soát bệnh. Nếu triệu chứng tăng đột ngột hoặc xuất hiện dấu hiệu đợt cấp BPTNMT, cần xin khám cấp cứu ngay lập tức.

4.2. Kế hoạch Hành động và Xử trí Khẩn cấp

Mỗi bệnh nhân cần lập kế hoạch hành động cá nhân với sự hướng dẫn của bác sĩ, bao gồm những thuốc cần dùng khi đợt cấp và khi nào liên hệ cơ sở y tế. Khi đợt cấp BPTNMT xảy ra, tăng liều thuốc bronchodilator, duy trì oxy hóa máu và liên hệ y tế ngay là các bước cần thiết. Hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế trong dự phòng và xử trí tăng khả năng hồi phục.

18/12/2025
Kiến thức thực hành về dự phòng đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính của người bệnh đang điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2022 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một tình trạng bệnh lý ở phổi, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Hiện tượng tắc nghẽn này thường tiến triển từ từ tăng dần và liên quan đến một quá trình viêm bất thường của phổi dưới tác động của ô nhiễm khí thở. Đặc điểm dịch tễ học 1.

Tình hình dịch tễ học thế giới Tại Mỹ (1994) có khoảng 16,365 triệu người mắc BPTNMT trong đó có tới 50% số người bệnh bị bỏ sót không được chẩn đoán. Tỷ lệ mắc bệnh ước tính vào khoảng 4 – 5% dân số, đã có xấp xỉ 96.000 người chết trong năm vì bệnh. BPTNMT được ước tính với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc Hiệp hội bệnh Hô hấp châu Á Thái Bình Dương[12]. Trung Quốc có tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với các vùng khác trong cùng khu vực (26,2/1.

BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở thành phố lớn và đứng hàng đầu ở nông thôn của trên 50% nam giới hút thuốc ở Trung Quốc. Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam Theo một số thống kê ở Bệnh viện Bạch Mai, trong 3606 người bệnh vào điều trị tại khoa Hô hấp từ 1996 – 2000, tỷ lệ người bệnh được chẩn đoán BPTNMT lúc ra viện chiếm 25,1%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi và có 15,7% trong số này được chẩn đoán tâm phế mạn [1], [2]. Các nghiên cứu dịch tễ về BPTNMT trong cộng đồng ở nước ta còn rất ít. Trong nghiên cứu điều tra của Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư > 35 tuổi của phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [7].

Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT trong cộng đồng dân cư có tuổi từ 40 trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2%. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3,4% và ở nữ là 0,7% [3]. 3 Theo một nghiên cứu dịch tễ của Nguyễn Viết Nhung và cộng sự tại bệnh viện phổi trung ương, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính toàn quốc được thực hiện trên 25000 người lớn từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh thành phố, đại diện cho dân số Việt Nam từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc COPD ở nam là 3,4 và nữ là 1,1%.

Tỷ lệ mắc COPD ở lứa tuổi ³40 là 4,2%, trong khi ở nhóm dưới 40 tuổi, tỷ lệ chỉ là 0,4%. Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ COPD ở nam/nữ ở lứa tuổi này (7. Ở nông thôn có tỷ lệ mắc COPD cao hơn miền núi và thành thị, song sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc tỷ lệ mắc COPD là cao nhất (5,7%) so với miền Trung là 4,6% và miền nam là 1,9% (P<0,001) [13].

Nguyên nhân gây bệnh Hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc: BPTNMT xảy ra ở khoảng 15% người nghiện thuốc và việc sử dụng thuốc lá chiếm 90% nguy cơ mắc bệnh này. Hút thuốc lá thụ động hoặc tiếp xúc với khói thuốc cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến giảm chức năng của phổi. Ô nhiễm không khí: Người ta vẫn chưa xác định được chắc chắn việc ô nhiễm không khí có gây BPTNMT hay không. Tuy nhiên, nếu có thì hậu quả của nó cũng nhỏ so với thuốc lá.

Tăng nhạy cảm đường dẫn khí: Là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với những chất kích thích từ không khí, như khói thuốc lá và chất ô nhiễm. Vai trò làm yếu tố nguy cơ của chứng bệnh này đối với BPTNMT ở những người hút thuốc vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Thiếu men α1 antitrypsin: Men α1 antitrypsin là một loại protein của cơ thể được gan sản xuất để giúp bảo vệ phổi khỏi bị tổn thương. Thiếu men α1 antitrypsin có tính chất di truyền, và nó là yếu tố nguy cơ di truyền duy nhất của BPTNMT được biết đến.

Nó chiếm khoảng dưới 1% số trường hợp bị BPTNMT ở Hoa Kỳ [5], [6], [10].4 Yếu tố nguy cơ 1. Các yếu tố liên quan đến môi trường • Khói thuốc lá • Hút thuốc chủ động 4 Thư viện ĐH Thăng Long Khói thuốc là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra những bệnh đường hô hấp. Khoảng 20% những người hút thuốc có giảm chức năng phổi ở giai đoạn sớm và có tỷ lệ cao các triệu chứng ho, khạc đờm. Bỏ thuốc lá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người bệnh BPTNMT đặc biệt là nhóm mắc BPTNMT giai đoạn sớm.

Khói thuốc đóng vai trò là yếu tố nguy cơ ở 80 - 90% số các người bệnh mắc BPTNMT. • Hút thuốc thụ động Tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc của những người hút thuốc trong cùng phòng (nhà ở hoặc nơi làm việc) làm tăng tỷ lệ mắc BPTNMT. Con của những người nghiện thuốc lá bị nhiễm trùng đường hô hấp nhiều hơn và nặng hơn con những người không hút thuốc lá, sau này chúng thường có biến chứng mạn tính về hô hấp. Một số đối tượng không hút thuốc nhưng đã phơi nhiễm đến mức độ cao của khói thuốc lá: chồng hút thuốc lá nặng, vợ không bao giờ hút thuốc, dấu hiệu tắc nghẽn tìm thấy ở cả hai vợ chồng.

• Bụi và hoá chất nghề nghiệp Ô nhiễm nghề nghiệp làm gia tăng tần suất mắc bệnh đường hô hấp, làm tắc nghẽn đường dẫn khí, giảm thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) nhanh hơn. Bụi và hoá chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói) gây BPTNMT khi phơi nhiễm với tác động mạnh và kéo dài. Yếu tố ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh Các hạt độc • Phơi nhiễm nghề nghiệp: các loại bụi vô cơ và hữu cơ, tác nhân hóa học là yếu tố nguy cơ cao • Một nghiên cứu đoàn hệ các nghề nghiệp: điêu khắc, làm vườn, nhân viên kho có nguy cơ dù không bao giờ hút thuốc lá hoặc bị hen. • Khoảng 3 tỉ người trên thế giới sử dụng nguyên liệu sinh khối (biomass) và than để nấu nướng và và sưởi ấm., do thế dân số nguy cơ rất lớn.

• Ô nhiễm không khí Mặc dù không rõ ràng là yếu tố nào của ô nhiễm không khí là thực sự gây hại, nhưng có vài bằng chứng cho rằng các tiểu phần ô nhiễm không khí sẽ làm thêm gánh nặng ở lượng khí hít vào. Vai trò của ô nhiễm không khí gây ra BPTNMT không rõ ràng. Tác động của ô nhiễm không khí tới sự xuất hiện BPTNMT thấp hơn thuốc lá. • Nhiễm trùng đường hô hấp 5 người bệnh bị VPQM dễ mắc các đợt nhiễm trùng cấp hơn so với người bình thường.

Nhiễm trùng có liên quan đến nguyên nhân cũng như tiến triển của BPTNMT. Những người hút thuốc có thể bị viêm tắc đường thở ngay khi chỉ nhiễm trùng đường hô hấp nhẹ. Nhiều nghiên cứu đã làm rõ quan hệ giữa các bệnh đường hô hấp với nhiễm virus, nấm, nhiễm vi khuẩn. Tiền sử có nhiễm trùng hô hấp khi còn nhỏ có liên quan đến giảm chức năng phổi và tăng các triệu chứng ở tuổi trưởng thành.

Viêm phổi nặng do virus xảy ra khi còn nhỏ có thể dẫn đến tắc nghẽn mãn tính các đường thở sau này. Nhiễm virus có thể liên quan đến các yếu tố khác như là trọng lượng khi sinh thấp và bản thân điều này cũng là yếu tố nguy cơ của BPTNMT. • Tình trạng kinh tế xã hội Nguy cơ xuất hiện BPTNMT không hoàn toàn liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội. Tuy nhiên, những cư dân có tình trạng kinh tế xã hội thấp thường có tình trạng dinh dưỡng nghèo nàn, cũng như môi trường sống ẩm thấp và bị ô nhiễm, do vậy tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhiễm khuẩn hô hấp và xuất hiện BPTNMT [5], [6], [10].

Các yếu tố liên quan đến cơ địa • Yếu tố gen Nhiều nghiên cứu cho thấy BPTNMT tăng lên trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh, yếu tố nguy cơ gen được biết rõ nhất là thiếu hụt di truyền α1- antitrypsin. Mặc dù thiếu α1-antitrypsin là yếu tố nguy cơ lớn cho BPTNMT nhưng chỉ có < 1% dân số có thiếu hụt yếu tố này. • Tăng đáp ứng đường thở Hen và tăng đáp ứng đường thở cũng được xác định là yếu tố nguy cơ cho BPTNMT. Tăng phản ứng đường thở không đặc hiệu thường thấy ở nữ > nam.

Cơ chế của tăng phản ứng đường thở dẫn đến BPTNMT còn đang được nghiên cứu nhưng các tác giả cho rằng tăng phản ứng đường thở là hậu quả rối loạn thông khí trong BPTNMT. • Sự phát triển của phổi Sự phát triển của phổi có liên quan đến quá trình phát triển ở bào thai, trọng lượng khi sinh và các phơi nhiễm trong thời niên thiếu. Nếu chức năng phổi của một cá thể khi trưởng thành không đạt được mức bình thường thì những cá thể này có nguy cơ sau này dễ bị BPTNMT. 6 Thư viện ĐH Thăng Long • Giới tính Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc BPTNMT của nam giới cao hơn nữ giới liên quan tới hút thuốc lá.

Nhưng những năm trở lại đây tỷ lệ mắc BPTNMT ở nữ ngày càng tăng. Sự khác nhau về giới trong BPTNMT là kết quả của sự tương tác về gen giới tính và sự khác biệt giới tính về văn hoá xã hội trong thời kỳ niên thiếu, dậy thì và trưởng thành. Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch ảnh hưởng đến BPTNMT. Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng những hormon giới tính ảnh hưởng đến sự phản ứng của đường thở trong suốt cả cuộc đời.

Ngoài ra sự khác biệt này còn liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố phơi nhiễm khác như khói thuốc lá, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường. và thường giới nữ có nhiều rủi ro hơn nên cần lưu ý hơn nhất là ô nhiễm trong nhà [5], [6], [10]. Triệu chứng lâm sàng * Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh gặp ở người có tuổi (>=50 tuổi), phần lớn là bệnh của nam giới có nghiện thuốc lá, thuốc lào. Bệnh bắt đầu từ lúc nào khó xác định, khi bệnh đã rõ ràng thường có các triệu chứng sau: - Ho và khạc đờm: thường ho và khạc đờm về buổi sáng, đờm nhầy, trong, dính hoặc có màu xanh đục, vàng đục như mủ khi có nhiễm khuẩn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ