CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH BẰNG MÁY BAY TRỰC THĂNG 1.1 Ngành hàng không và vai trò của ngành hàng không với phát triển du lịch 1.1 Ngành hàng không 1.1 Lược sử hình thành và phát triển ngành hàng không thế giới Con người đã ước mơ được chắp đôi cánh bay như chim hay có khả năng của thiên thần để lướt đi trong mây gió. Trong truyện Tây Du Ký của trung Hoa có Tôn Ngộ Không biết phép "cân đẩu vân" nên chỉ cần phóng mình lên không trung là bay vút lên trời và có thể đứng lại trên mây mà không tuân theo một nguyên tắc khoa học nào. Trong huyền thoại Hy Lạp có hai cha con Daedalus và Icarus đã bay bằng đôi cánh lông chim gắn bằng sáp để thoát khỏi giam cầm ở đảo Crete, nhưng người con là Icarus quên lời dặn của cha, đã quá hăng say bay cao đến gần mặt trời làm sáp chảy rã cánh và rơi xuống biển.11] Hầu hết những ước mơ và sáng kiến bay như chim của người xưa chỉ là những gợi ý rất mơ hồ và không thực tế. Năm 1250, Roger Bacon ở Anh đã viết một cuốn sách được xem là đầu tiên về hàng không, trong đó Roger Bacon đề cập đến một máy bay có người điều khiển một máy làm đập cánh để bay như chim.
Mãi đến cuối thế kỷ thứ 15, Leonardo de Vinci ở ý là người đầu tiên nghĩ đến việc bay với cánh dang rộng và đã vẽ thiết kế các kiểu mẫu máy bay bằng sức người. Leonardo de Vinci đã để lại hàng trăm bản vẽ mẫu thiết kế sơ bộ về máy bay, trong đó có cả gợi ý về một máy bay trực thăng. Đến cuối thế kỷ 18, các nhà khoa học đã nghiên cứu về khí tĩnh học, về hàng không động lực học. Năm 1783, Rilatre de Rozier ở Pháp đã bay lên bầu trời bằng khinh khí cầu do anh em Joseph và Jacques Montgolfier chế tạo.
Phát minh về máy bay nhẹ hơn không khí này giúp con người rời khỏi mặt đất và bay lơ lửng theo gió. Năm 1799, George Carley ở Anh đã thiết kế một loại tàu lượn nặng hơn không khí. Năm 1848, một ký sư trẻ người Anh tên Stringfellow đã chế tạo thành công một máy bay mô hình với động cơ hơi nước và bay được 400m. Đây là lần đầu tiên một máy bay nặng hơn không khí tự bay được bằng chính sức mình.
Nhiều người ở 4 Anh, Pháp, Đức.hứng thú đua nhau chế tạo máy bay có người lái nhưng không thành công. Gần cuối thế kỷ 19, Otto Lilienthal ở Đức thực hiện và cổ xúy cho cách bay bằng đôi cánh diều cố định. Trong một chuyến bay năm 1896, ông đã bay được 300m nhưng bị rơi chết vì cơn gió giựt làm mất lực nâng và không điều khiển được chuyển động bay. Lịch sử đã ghi lại những nỗ lực chế tạo máy bay đầu tiên vào cuối thế kỷ 19 nhưng đều bị dang dở sau vài lần thất bại những thử nghiệm ban đầu.
Năm 1882, Alexander Mozhaisky ở Nga đã cùng Evan Golubev chế tạo một máy bay với 3 chong chóng quay bằng 3 động cơ hơi nước. Trong lần thử nghiệm ở St. Peterbourg, máy bay chỉ rời mặt đất vài giây đồng hồ trong khoảng đường bay vài chục mét, rồi chạm lại mặt đất và gãy cánh. Sau thất bại này dự án nghiên cứu chế tạo máy bay của nước Nga bị bãi bỏ vì không được Bộ quân vụ Sa Hoàng hỗ trợ nữa.
Động cơ xăng bắt đầu xuất hiện năm 1897, đã dần dần thay thế động cơ hơi nước và giúp cho máy bay giảm bớt trọng lượng để dễ cất cánh hơn. Năm 1903, hai anh em Wilbur và Orville Wright ở Mỹ đã chế tạo máy bay một người lái với động cơ xăng. Wilbur đã thành công trong chuyến bay thử nghiệm có ý nghĩa lịch sử này khi điều khiển chiếc máy bay cất cánh khỏi mặt đất khoảng 4 -5m và bay 284m trong 59 giây. Kể từ 1903, con người được xem như đã thành công trong việc chế tạo và phát minh máy bay cánh bằng.
Louis Bleriot, người Pháp đã bay vượt biển Manche lần đầu tiên ngày 25/7/1909 với máy bay có cánh đặt phía sau. Năm 1911, Jules Vedrines đã vượt dãy núi Pyrenees ở nơi có độ cao 1700m trong chuyến bay từ Paris đi Madrid. Năm 1913, Roland Garros bay liên tục gần 8 giờ, vượt qua 500km trên mặt nước Địa Trung Hải. Việc phát minh sáng chế ra máy bay để con người thực hiện ước mơ bay trên bầu trời, mà đến đầu thế kỷ 20 những tiến bộ KHKT đã giúp nhiều người đạt được mục đích bay lượn đó.
Lúc đầu, máy bay được chế tạo chỉ để bay cho thỏa thích và hoạt động bay trở thành một môn thể thao để giải trí, chứ không phải là một phương tiện di chuyển. Nhưng rồi máy bay được ứng dụng như một phương tiện vận chuyển dân dụng và một loại vũ khí chiến tranh. Mỹ là nước đầu tiên thành lập lực lượng không quân năm 1907, rồi sau đó là Pháp, Anh, Đức. Kỹ thuật hàng không đã có 5 nhiều tiến bộ trong thời gian từ năm 1908-1912.
Máy bay lúc đầu chỉ cần bay được và điều khiển được nên hình dạng còn thô kệch với đôi cánh có nhiều dây tăng cường. Năm 1910, Edouard Nieuport, một người Pháp đã chế tạo máy bay cánh đơn và thân với hình dạng lưu tuyến có ít dây tăng cường và ít lực cản hơn. Trong thế chiến thứ nhất, chiến tranh đã thúc đẩy sự phát triển của máy bay. Từ đó những kế hoạch thành lập các hãng hàng không đầu tiên đã bắt đầu ở Châu Âu từ các năm 1916, 1917.
Với số hành khách gia tăng và đường bay phát triển dài hơn, các hãng hàng không cần loại máy bay lớn hơn. Máy bay DC - 4 bắt đầu đi vào hoạt động năm 1942 chở được từ 44 -55 hành khách. Hầu hết các máy bay ở Mỹ và Châu Âu được phát triển trong giai đoạn thế chiến thứ hai đều bắt đầu từ đơn đặt hàng cho nhu cầu vận chuyển quân đội, rồi sau đó mới được sử dụng trong hàng không dân dụng.2 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành hàng không Việt Nam Trên thế giới ngành hàng không được chú trọng và phát triển từ rất sớm, nó không chỉ là sự thỏa mãn nhu cầu được bay lượn như chim trên bầu trời nữa mà hàng không ra đời đã tạo một bước ngoặt lớn cho nhân loại: nó giúp chúng ta thám hiểm được những vùng đất mới, phục vụ cho mục đích quân sự, tiết kiệm được thời gian, vận chuyển được một khối lượng hành khách lớn. Chính vì những lợi ích đó ngành Hàng không dân dụng ở Việt Nam được ra đời.
Lịch sử ngành hàng không dân dụng ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 8 tháng 6 năm 1951, với sự thành lập của hãng hàng không dân dụng đầu tiên Air Vietnam. Với số vốn 18 triệu piastre (tức 306 triệu France Pháp), hãng được hình thành bởi 6 cổ đông ban đầu là Chính phủ Quốc gia Việt Nam (50%), hãng Air France (33,5%), Vận tải hàng không Ðông Dương (SITA) (11%), Vận tải biển (Messageries maritimes) (4,5%), Hiệp hội hàng không vận tải (Union aéronautique des transports) (0,5%), và Aigle Azur Indochine (0,5%). Năm 1968, hãng tái cơ cấu lại vốn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa mua lại các phần góp và tăng vốn kiểm soát lên 75% và Air France giảm còn 25%. 6 Từ một đội bay nhỏ gồm 5 chiếc Cessna 170, với các điểm đến chủ yếu tới những thị trấn nhỏ khắp Việt Nam, Air Vietnam dần phát triển mạnh lên thêm về số lượng máy bay cũng như hệ thống đường bay quốc tế trong suốt 24 năm tồn tại.
Ở miền Bắc, ngành hàng không dân dụng bắt đầu từ ngày 15 tháng 1 năm 1956, khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Đây được xem là ngày thành lập chính thức của Hàng không Việt Nam hiện tại. Với một đội máy bay nhỏ gồm 5 chiếc của miền Bắc, hàng không Việt Nam mở đường bay quốc tế đầu tiên tới Bắc Kinh. Trong những năm sau đó, về danh nghĩa, nhiều tuyến bay quốc tế được mở đến các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa, thậm chí đến một số nước phương Tây, nhưng trên thực tế đều thực hiện quá cảnh sang Trung Quốc.
Năm 1976, sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh những cơ sở vật chất đã tiếp quản trước đó, chính phủ Việt Nam tịch thu các tài sản còn lại của Air Vietnam và chuyển cho Tổng Cục Hàng không Dân dụng quản lý và sử dụng. Đội bay Hàng không Dân dụng Việt Nam, ngoài các máy bay Boeing 727 thu được của Air Vietnam, còn được tăng cường bởi các máy bay của Liên Xô như Tupolev Tu- 134, Tupolev Tu-154. Một số đường bay quốc tế mới đến Viêng Chăn và Băng Cốc được mở lần lượt vào các năm 1976 và 1978. Bấy giờ, tên giao dịch của Hàng không Dân dụng Việt Nam là Vietnam Civil Aviation; đối với một số tuyến bay đến các nước phương Tây, tên giao dịch Air Vietnam vẫn được sử dụng.
Tháng 4 năm 1993, Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Airlines) được thành lập và là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Ngày 27 tháng 5 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines Corporation) trên cơ sở sáp nhập 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không mà Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam là nòng cốt. Hãng nằm dưới sự quản lý của một hội đồng 7 người do Thủ tướng chỉ định, có các đường bay đến khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Âu và châu Đại Dương, với 46 điểm đến ở 19 7 quốc gia. Trụ sở chính được đặt tại hai sân bay lớn nhất Việt Nam: Sân bay quốc tế Nội Bài và Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Vietnam Airlines là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ nắm giữ cổ phần 69,93% Jetstar Pacific Airlines. Hãng nắm 49% trong Cambodia Angkor Air, hãng hàng không quốc gia Campuchia, và 100% trong VASCO, một hãng bay nhỏ chuyên bay ở khu vực miền Nam Việt Nam. Hãng được đánh giá 3 sao, theo tiêu chuẩn của Skytrax. Ngày 10 tháng 6 năm 2010, hãng chính thức gia nhập liên minh SkyTeam, trở thành hãng hàng không đầu tiên của Đông Nam Á gia nhập liên minh này.
Ngày 20 tháng 10 năm 2002, Vietnam Airlines tổ chức lễ giới thiệu biểu tượng mới “Bông Sen Vàng”.