Tổng quan nghiên cứu

Khu kinh tế Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh sở hữu diện tích tự nhiên 551,33 km2 với khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong quần thể vịnh Bái Tử Long. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Vân Đồn được định hướng trở thành trung tâm du lịch biển đảo chất lượng cao, trung tâm tài chính và thương mại quốc tế, đặt mục tiêu đón khoảng 900.000 lượt khách vào năm 2015 và trên 2,5 triệu lượt khách vào năm 2020. Trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 17,3%, tổng giá trị sản xuất đạt 708 tỷ đồng, mở ra tiềm năng bứt phá mạnh mẽ nhưng đồng thời tạo áp lực lớn lên tài nguyên tự nhiên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mâu thuẫn giữa tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển du lịch nhanh chóng với yêu cầu bảo tồn các hệ sinh thái biển đảo nguyên sơ. Nghiên cứu xác định mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường không khí, đất, nước mặt, nước biển ven bờ và đa dạng sinh học; từ đó dự báo diễn biến ô nhiễm khi triển khai các dự án hạ tầng lớn như sân bay Vân Đồn có đường băng 3,5 km, cảng biển Vạn Hoa công suất hơn 1 triệu tấn/năm và các trục giao thông đối ngoại.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 12 đơn vị hành chính của huyện Vân Đồn giai đoạn 2005 - 2011, tập trung sâu vào đảo Cái Bầu (chiếm 56,1% diện tích đất nổi) và Vườn quốc gia Bái Tử Long. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ cho công tác quản lý tài nguyên, đề xuất các chỉ số giới hạn sinh thái nhằm giữ vững mục tiêu phát triển bền vững, giảm thiểu nguy cơ suy thoái môi trường biển đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2008 cùng phương pháp đánh giá nhanh của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố năm 1993. Mô hình nghiên cứu tích hợp việc phân tích tương tác đa chiều giữa hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với các thành phần môi trường vật lý, sinh học và nhân văn trên địa bàn hải đảo.

Các khái niệm then chốt bao gồm: sức tải môi trường hải đảo (khả năng tự làm sạch giới hạn của các vùng nước kín ven bờ), tính nhạy cảm sinh thái (đặc tính dễ bị tổn thương của các rạn san hô và 19 loài thực vật ngập mặn), đánh giá tác động tích lũy (tổng hòa các nguồn thải từ hoạt động du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông cảng biển và nguồn ô nhiễm ngoại sinh từ lưu vực sông Tiên Yên rộng 1.070 km2).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu quan trắc giai đoạn 2005 - 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và dữ liệu quan trắc thực địa tại 10 điểm đại diện vào tháng 3/2009 cùng tháng 11/2011 do Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Viện Công nghệ mới thuộc Viện Khoa học và Công nghệ quân sự thực hiện. Cỡ mẫu bao gồm 10 trạm quan trắc không khí, 10 điểm nước biển ven bờ và các mẫu kiểm chứng môi trường đất, trầm tích trên toàn bộ địa bàn huyện.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật lấy mẫu phân tầng không gian (stratified spatial sampling), bao quát từ các khu vực đô thị tập trung như thị trấn Cái Rồng, các vùng nhạy cảm sinh thái như Vườn quốc gia Bái Tử Long, đến các cửa biển tiếp nhận ô nhiễm ngoại sinh như xã Đoàn Kết và Bình Dân. Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn quốc gia như TCVN 5994-1995 đối với nước ao hồ tự nhiên và TCVN 5996-1995 đối với nước sông suối.

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp ma trận và phân tích mạng lưới kết hợp hệ thống thông tin địa lý (GIS) trên nền bản đồ tỷ lệ 1:50.000. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm trực quan hóa các tầng dữ liệu không gian, dự báo chính xác các tác động sơ cấp và thứ cấp của quy hoạch hạ tầng theo chu kỳ phát triển 2011 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, môi trường không khí tại huyện Vân Đồn nhìn chung còn khá trong lành nhưng đã xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bụi cục bộ tại các trục giao thông chính. Tại thời điểm tháng 11/2011, nồng độ bụi lơ lửng tại khu vực trạm thu phí Vân Đồn đạt mức 290 µg/m3 và gần khu dân cư đạt 209 µg/m3, tiệm cận ngưỡng giới hạn 300 µg/m3 theo QCVN 05:2009/BTNMT do mật độ phương tiện gia tăng và hạ tầng đang trong quá trình thi công.

Thứ hai, chất lượng nước biển ven bờ ghi nhận tình trạng ô nhiễm hữu cơ, dầu mỡ và vi sinh cục bộ nghiêm trọng tại các khu vực tập trung dân cư và hoạt động tàu thuyền. Hàm lượng dầu mỡ tại Cảng Cái Rồng đo được là 0,47 mg/L, vượt 2,35 lần giới hạn cho phép của quy chuẩn. Chỉ số vi sinh vật tổng Coliform tại xã Đài Xuyên đạt 1.430 MPN/100mL và xã Vạn Yên đạt 1.250 MPN/100mL, vượt ngưỡng cho phép đối với nước biển ven bờ. Vào tháng 11/2011, chỉ số BOD5 tại điểm quan trắc N3 tăng vọt lên mức 26 mg/L, phản ánh sự quá tải của nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng so với tiêu chí phát triển bền vững vùng đảo. Toàn huyện có 31.682 ha đất rừng, trong đó rừng sản xuất chiếm tới 17.187 ha (tương đương 53% tổng diện tích rừng), phần lớn lại là rừng tự nhiên. Tỷ lệ này cao vượt mức an toàn sinh thái (vốn được khuyến nghị không vượt quá 20%), làm suy giảm khả năng giữ nước ngọt của hệ thống 28 hồ đập trên đảo.

Thứ tư, công tác quản lý chất thải rắn và nước thải còn nhiều bất cập. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt toàn huyện mới đạt 57%, lượng rác thải 19-22 tấn/ngày hầu như chỉ được chôn lấp tạm thời hoặc đốt thủ công tại bãi rác xã Vạn Yên và đảo Ngọc Vừng. Toàn huyện chưa có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải tập trung, khiến 100% nước thải sinh hoạt và dịch vụ xả thẳng ra biển.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm cục bộ xuất phát từ tốc độ phát triển nhanh của các hoạt động dân sinh, thương mại nhưng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường chưa được đầu tư tương xứng. Bên cạnh đó, môi trường ven biển phía Tây Bắc đảo Cái Bầu còn chịu tác động ngoại sinh đáng kể từ hoạt động khai thác than tại thị xã Cẩm Phả và nguồn phù sa mang tải lượng hữu cơ từ lưu vực sông Tiên Yên đổ ra biển khoảng 660 triệu m3 nước mỗi năm.

Sự biến động của các thông số môi trường như oxy hòa tan (DO dao động 5,03 - 8,0 mg/L), tổng chất rắn lơ lửng (TSS dao động 9 - 48 mg/L) và kim loại nặng được minh họa rõ nét qua hệ thống biểu đồ cột và bảng số liệu đối sánh chuỗi thời gian 2005 - 2011. Các bảng số liệu chỉ ra rằng các vùng xa dân cư như đảo Trà Bản và khu vực Vạn Hoa vẫn duy trì chất lượng nước đạt chuẩn, chứng minh tác động tiêu cực hiện thời mang tính nhân sinh rõ rệt.

So với các nghiên cứu môi trường biển ven bờ tại miền Bắc, tính chất kín gió và chế độ bán nhật triều với biên độ dao động lên tới 4,8 m của vịnh Bái Tử Long khiến khả năng phát tán chất ô nhiễm chậm hơn. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, lượng khách du lịch dự báo đạt 2,5 triệu người vào năm 2020 sẽ làm suy thoái 210 loài thực vật phù du và 44 loài rong biển quý hiếm trong khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu và quản lý bền vững tài nguyên rừng. UBND tỉnh Quảng Ninh cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2020, chuyển đổi diện tích rừng sản xuất từ 53% xuống dưới mức 20% trong cơ cấu rừng, đồng thời khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt 22.106 ha rừng tự nhiên hiện có, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện đạt tối thiểu 70% nhằm bảo vệ túi nước ngầm cho 28 hồ đập chứa nước ngọt.

Thứ hai, đầu tư đồng bộ hạ tầng xử lý nước thải và chất thải rắn sinh hoạt. Ban Quản lý Khu kinh tế Vân Đồn phối hợp với UBND huyện triển khai dự án xây dựng 2 nhà máy xử lý nước thải tập trung tại đô thị Cái Rồng và khu vực phát triển Đoàn Kết trước năm 2018, đảm bảo 100% nước thải đô thị và dịch vụ du lịch đạt quy chuẩn trước khi xả ra biển. Nâng tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt 90-95% vào năm 2016 thông qua việc nâng cấp khu liên hợp xử lý rác thải công nghệ cao tại xã Vạn Yên.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường tự động. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cần lắp đặt hệ thống trạm quan trắc tự động liên tục đối với môi trường nước biển ven bờ và không khí tại 10 vị trí trọng điểm (Cảng Cái Rồng, sân bay Vân Đồn, cảng Vạn Hoa, các xã đảo Quan Lạn, Minh Châu) trong giai đoạn 2013 - 2015, phục vụ giám sát tải lượng ô nhiễm từ các tàu thuyền và khu dân cư.

Thứ tư, bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái biển đảo nhạy cảm. Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long cần thiết lập vùng đệm an toàn sinh thái, cấm mọi hoạt động xây dựng có nguy cơ gây xói lở bãi bồi, bảo vệ nghiêm ngặt 19 loài thực vật ngập mặn và hệ sinh thái rạn san hô. Áp dụng quy chế quản lý nghiêm ngặt đối với các tour du lịch sinh thái và hoạt động nuôi trồng thủy sản trên diện tích 3.100 ha mặt nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu kinh tế Vân Đồn có thể sử dụng các số liệu dự báo tải lượng ô nhiễm và bản đồ GIS tỷ lệ 1:50.000 làm căn cứ thẩm định quy hoạch chi tiết cho diện tích 551,33 km2 toàn huyện.

  2. Chủ đầu tư và doanh nghiệp hạ tầng: Các đơn vị triển khai dự án sân bay quốc tế, hệ thống cảng biển Vạn Hoa, khu nghỉ dưỡng cao cấp phục vụ 2,5 triệu khách du lịch sử dụng kết quả nghiên cứu để thiết kế các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường ngay từ giai đoạn lập dự án khả thi.

  3. Đơn vị tư vấn và chuyên gia đánh giá môi trường: Các kỹ sư môi trường có thể ứng dụng khung phương pháp luận đánh giá môi trường chiến lược, bảng kiểm tra checklist và mô hình mạng lưới network làm tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các báo cáo ĐTM và ĐMC tại khu vực hải đảo.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Các cơ sở đào tạo chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Quy hoạch Đô thị khai thác bộ dữ liệu thực địa 10 trạm quan trắc để phục vụ giảng dạy và mở rộng các đề tài nghiên cứu về sức tải sinh thái biển đảo.

Câu hỏi thường gặp

Thành phần môi trường nào tại Khu kinh tế Vân Đồn đang chịu áp lực lớn nhất?

Môi trường nước biển ven bờ đang chịu tác động lớn nhất. Số liệu thực nghiệm cho thấy tại Cảng Cái Rồng hàm lượng dầu mỡ đạt 0,47 mg/L (vượt 2,35 lần quy chuẩn), trong khi chỉ số Coliform tại xã Đài Xuyên lên tới 1.430 MPN/100mL do nước thải sinh hoạt và hoạt động tàu thuyền xả trực tiếp ra biển mà chưa qua hệ thống xử lý tập trung.

Tỷ lệ rừng sản xuất 53% tại Vân Đồn gây ra nguy cơ sinh thái nào?

Với địa hình huyện đảo gồm 600 hòn đảo, tỷ lệ rừng sản xuất chiếm 53% (17.187 ha trên tổng số 31.682 ha đất rừng) là quá cao. Việc khai thác rừng sản xuất làm tăng nguy cơ xói mòn rửa trôi lớp đất feralit mỏng (40 cm), giảm khả năng trữ nước của 28 hồ đập và làm suy kiệt nguồn nước ngọt sinh hoạt trong mùa khô.

Môi trường không khí tại huyện đảo Vân Đồn có dấu hiệu ô nhiễm chưa?

Nhìn chung chất lượng không khí toàn huyện vẫn đạt tiêu chuẩn QCVN 05:2009/BTNMT. Tuy nhiên, ô nhiễm bụi cục bộ đã xuất hiện tại các điểm nút giao thông với nồng độ bụi lơ lửng đo được tại trạm thu phí đạt 290 µg/m3 và khu dân cư đạt 209 µg/m3, cảnh báo nguy cơ gia tăng ô nhiễm khi thi công hạ tầng quy mô lớn.

Nguồn ô nhiễm ngoại sinh tác động đến Vân Đồn đến từ đâu?

Vân Đồn tiếp nhận nguồn ô nhiễm ngoại sinh chủ yếu qua dòng chảy luồng Gạc và sông Voi Lớn ngăn cách đảo Cái Bầu với vùng khai thác than Cẩm Phả và huyện Tiên Yên. Sông Tiên Yên hằng năm xả ra biển khoảng 660 triệu m3 nước kèm 34.700 tấn phù sa, tác động trực tiếp lên chất lượng nước ven bờ xã Đoàn Kết và Bình Dân.

Đánh giá môi trường chiến lược đóng góp gì cho định hướng phát triển bền vững Vân Đồn?

Phương pháp đánh giá môi trường chiến lược tích hợp mô hình đánh giá nhanh WHO cho phép lượng hóa trước tải lượng phát sinh từ 2,5 triệu du khách và các khu công nghiệp. Nhờ đó, chính quyền có thể chủ động lồng ghép các giải pháp bảo vệ 19 loài thực vật ngập mặn và quy hoạch 2 nhà máy xử lý nước thải trước khi cấp phép đầu tư.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường tại huyện đảo Vân Đồn với quy mô 551,33 km2, chỉ ra các điểm nóng ô nhiễm vi sinh và dầu mỡ tại Cảng Cái Rồng, xã Vạn Yên và Đài Xuyên.
  • Phân tích rõ nét sự bất hợp lý trong cơ cấu đất lâm nghiệp khi tỷ lệ rừng sản xuất chiếm tới 53%, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước ngọt và hệ sinh thái Vườn quốc gia Bái Tử Long.
  • Dự báo chi tiết các nguy cơ suy thoái môi trường khi huyện đảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch vụ (chiếm 58,8%) và đón trên 2,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2020.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ, bao gồm chuyển đổi cơ cấu rừng, xây dựng 2 trạm xử lý nước thải tập trung, nâng tỷ lệ thu gom rác lên 90-95% và thiết lập mạng lưới quan trắc tự động.
  • Lộ trình triển khai các giải pháp bảo vệ môi trường cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2012 - 2020 nhằm đảm bảo Khu kinh tế Vân Đồn phát triển thịnh vượng, hiện đại song hành cùng sự bền vững sinh thái biển đảo.