MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quy hoạch bảo vệ môi trường (QHBVMT) (Environmental Planning) đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà các quốc gia phát triển nhìn nhận một cách nghiêm túc các vấn đề môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Cũng từ đó, một số tổ chức quốc tế như: Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). khởi thảo tiến trình quy hoạch vùng, nghiên cứu lồng ghép tổng hợp kinh tế với môi trường và triển khai nghiên cứu một số dự án QHBVMT điển hình tại một số nước như: Philippin (thực hiện 1976 - 1978), Hàn Quốc (1982 - 1984), Thái Lan (1985 - 1986), Malaysia (1986 – 1987), Trung Quốc (1993 - 1994) v.
Đến nay, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)… đã ban hành nhiều tài liệu hướng dẫn và giới thiệu kinh nghiệm về QHBVMT ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề QHBVMT được Việt Nam tiếp nhận từ khoảng 1990, bắt đầu bằng các nghiên cứu của một số chuyên gia về phương diện lý thuyết, sau đó những nội dung cơ bản của QHBVMT và khả năng vận dụng vào thực tiễn Việt Nam đã được tổ chức nghiên cứu trong một số đề tài thuộc các chương trình cấp nhà nước về khoa học kỹ thuật và công nghệ, hoặc trong các dự án do quốc tế tài trợ, hoặc trong các công trình nghiên cứu lập QHBVMT cho các tỉnh thành: Hải Dương (năm 2007), Thái Nguyên, An Giang (2010), thành phố Hà Nội (2012), Tiền Giang (2014) và một số địa phương khác. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài các chuyên gia môi trường của Việt Nam bị cuốn vào một cuộc tranh luận không có hồi kết về từ ngữ và nội dung QHBVMT do vấn đề này chưa được thể chế hóa trong các văn bản pháp lý của Nhà nước. Về quy hoạch trong lĩnh vực môi trường, các nước trên thế giới chỉ dùng một cụm từ tiếng Anh “Environmental Planning”, nhưng ở Việt Nam cụm từ này được hiểu theo 2 cách, đó là: (i) “quy hoạch môi trường” và (ii) “quy hoạch bảo vệ môi trường” với nội dung và phương thức thực hiện khác nhau, dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn khác nhau.
Vì vậy, kết quả quy hoạch còn bị hạn chế và quy hoạch chưa trở thành một công cụ đắc lực trong công tác quản lý môi trường ở Việt Nam. Gần đây, trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP mới quy 1 z định rõ ràng khái niệm về "quy hoạch bảo vệ môi trường" và những hướng dẫn cụ thể về nội dung và quy trình lập QHBVMT cấp quốc gia và cấp tỉnh thành, theo đó QHBVMT là nhiệm vụ cần thiết để phục vụ công tác quản lý tài nguyên và môi trường, là một quy hoạch thành phần gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương. Tuy nhiên, lập QHBVMT của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là việc không hề đơn giản, vì nó liên quan với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác, nó vừa phụ thuộc vào quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch sử dụng đất, vừa có khả năng điều chỉnh quy hoạch đó trong trường hợp cần thiết. Quy hoạch bảo vệ môi trường thuộc phạm trù tổ chức không gian lãnh thổ, việc xây dựng quy hoạch này không chỉ dựa trên các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mà còn phải căn cứ vào hoạt động khai thác sử dụng những điều kiện và tài nguyên đó trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, cùng những hệ quả môi trường mà chúng gây ra, để đạt đến sự hài hòa giữa phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững.
Nói cách khác, để lập quy hoạch bảo vệ môi trường các tỉnh thành, trong đó có Tp. Đà Nẵng cần thiết phải làm sáng tỏ về phương pháp luận, những nội dung cơ bản của quy hoạch, các cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn về phát triển không gian xanh của thành phố, lịch sử biến động sử dụng đất, sự suy giảm các dạng tài nguyên, đặc biệt là phải lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu (BĐKH) với quy hoạch. Trong bối cảnh đó đề tài luận án "Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường Tp. Đà Nẵng" được đề xuất và thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu: - Phân tích, đánh giá được tính đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và môi trường nhằm xác lập cơ sở khoa học phục vụ định hướng QHBVMT Tp. - Đề xuất được định hướng sử dụng hợp lý các đơn vị phân vùng môi trường trong quá trình xây dựng QHBVMT nhằm mục đích phát triển bền vững KTXH và thích ứng với biến đổi khí hậu của Tp. Nhiệm vụ của luận án: - Nghiên cứu phương pháp luận và các phương pháp đánh giá ĐKTN, TNTN của một đô thị ven biển theo các tiếp cận địa lý tổng hợp, sử dụng hợp lý lãnh thổ, nhằm xác lập luận cứ khoa học cho việc quy hoạch bảo vệ môi trường Tp. - Đánh giá điều kiện tự nhiên, KTXH, hiện trạng và xu thế biến đổi tài nguyên, môi trường, phân tích các vấn đề môi trường cấp bách của Tp.
2 z - Phân vùng môi trường và định hướng các không gian ưu tiên bảo vệ môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phục vụ định hướng QHBVMT Tp. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Lãnh thổ nghiên cứu của luận án nằm trong ranh giới hành chính của thành phố Đà Nẵng- đô thị ven biển. Phần đất liền gồm lãnh thổ 6 quận nội thành và 1 huyện ngoại thành. Phần biển bao gồm vịnh Đà Nẵng và vùng biển ven bờ phía Đông đến độ sâu 30m.
Ranh giới được xác định dựa trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 do Cục Đo đạc bản đồ, Bộ TN&MT đo vẽ 2002. Do điều kiện tiếp cận nghiên cứu hạn chế, huyện Hoàng Sa cách đất liền khoảng 315km không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Đối tượng nghiên cứu: Môi trường, tài nguyên và QHBVMT tổng thể gắn với quy hoạch phát triển KTXH, thích ứng biến đổi khí hậu của thành phố Đà Nẵng. Cơ sở tài liệu thực hiện luận án + Số liệu quan trắc định kỳ và bổ sung về chất lượng môi trường hàng năm tại Tp.
Đà Nẵng do Trung tâm QT&KT môi trường thực hiện (2000-2013). + 45 tài liệu nghiên cứu về lý luận đánh giá điều kiện tự nhiên vùng lãnh thổ, về cách tiếp cận tổng hợp, về phân tích, đánh giá môi trường; + 35 tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và 34 tài liệu về quy hoạch phát triển và QHBVMT; + Tài liệu, số liệu do NCS khảo sát thực tế và bổ sung, tính toán; + Luận án đã cập nhật các số liệu về ĐKTN, TNTN, và KTXH đến năm 2014. NCS đã tiến hành xây dựng bản đồ phân bố không gian lớp phủ bề mặt các năm 1990, 1995, 2000, 2005, 2010 và 2014 thành phố Đà Nẵng, tỷ lệ 1/100.000; mô hình phân bố không gian nhiệt độ bức xạ bề mặt 6 quận nội thành Đà Nẵng, giai đoạn 1990- 2014; sơ đồ mô phỏng xâm nhập mặn lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn theo kịch bản hiện trạng và kịch bản nước biển dâng 30 - 50 cm. Đây là các bản đồ cơ sở để xây dựng bản đồ phân vùng môi trường.
Luận án đã phân tích cấu trúc, chức năng môi trường của các vùng và tiểu vùng, kết hợp với đánh giá ảnh hưởng của biến động lớp phủ bề mặt và tác động của biến đổi khí hậu theo các đơn vị phân vùng để xây dựng bản đồ phân vùng môi trường thành phố Đà Nẵng cùng tỷ lệ. Những điểm mới của luận án (i) Đã làm rõ các vấn đề cấp bách về môi trường, tài nguyên, biến đổi khí hậu và phân vùng môi trường Tp. Đà Nẵng tỷ lệ 1/100.000 thành 15 tiểu vùng trong 4 vùng, làm cơ sở cho quy hoạch bảo vệ môi trường. (ii) Đã đề xuất các không gian bảo vệ môi trường gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu cho thành phố Đà Nẵng.
Luận điểm bảo vệ 1. Sự phân hóa đa dạng về điều kiện tự nhiên cùng tác động của quá trình phát triển đô thị và hoạt động nhân sinh đã dẫn đến sự phân hóa môi trường mang tính đặc thù ở thành phố ven biển Đà Nẵng; Kết quả phân vùng môi trường thể hiện mối quan hệ tương hỗ đa chiều giữa các hợp phần tự nhiên, tài nguyên và KTXH, là cơ sở khoa học quan trọng cho QHBVMT Tp. Các định hướng QHBVMT Tp. Đà Nẵng được đề xuất trong luận án dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn mang tính đặc thù đối với Đà Nẵng gồm các không gian: ưu tiên bảo tồn, cải tạo phục hồi môi trường, quản lý MT tích cực, phát triển thân thiện môi trường.
Những định hướng QHBVMT có tính sát thực và khả thi đối với thành phố này trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu dựa vào cách tiếp cận địa lý tổng hợp, luận án đã làm sáng tỏ bản chất và quá trình biến đổi của một số thành phần tự nhiên, chất lượng môi trường, thực trạng của hoạt động KTXH và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến một đô thị ven biển. Từ đó đề xuất định hướng khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ cho các mục đích phát triển KTXH theo quan điểm PTBV; góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học đánh giá tổng hợp đối với một đơn vị lãnh thổ trên quan điểm sử dụng hợp lý TNTN và BVMT. Ý nghĩa thực tiễn: Những đề xuất định hướng sử dụng tài nguyên phù hợp với chức năng của các đơn vị cấp vùng và cấp tiểu vùng môi trường, các vấn đề cấp bách về môi trường tài nguyên cần ưu tiên giải quyết và xử lý là cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn giúp ích thiết thực cho các nhà quản lý trong quá trình thực hiện QHBVMT và góp phần điều chỉnh quy hoạch phát triển KTXH của Tp.
Đà nẵng theo hướng bền vững. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan nghiên cứu Quy hoạch bảo vệ môi trường 1. Trên thế thế giới Quy hoạch môi trường là một lĩnh vực chuyên ngành trong khoa học môi trường, được xem là một công cụ quản lý, bảo vệ môi trường có hiệu quả.