Mở đầu giới thiệu sơ lược về đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và các đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của đề tài nghiên cứu. = Chương 2: Tông quan: Giới thiệu đôi nét về một số tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan. Tổng quan về thị trường cao su và mối liên kết giữa CSTĐ và cơ sở thu mua. — Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu — Chương 4: Phân tích dự án — Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN Zul.
Tổng quan về tài liệu có liên quan 2.1 Nghiên cứu trong nước Báo cáo Ngành cao su Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững là sản phẩm hợp tác nghiên cứu của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) và Tổ chức Forest Trends. Nghiên cứu được triển khai từ năm 2017 đến tháng 9 năm 2018 với mục tiêu phác họa những nét cơ bản trong bức tranh tổng thé về ngành, từ khâu sản xuất, chế biến, thương mại đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Báo cáo góp phần làm rõ vai trò và vị thế của ngành cao su hiện nay, các thuận lợi và khó khăn mà ngành đang đối mặt trong bối cảnh của ngành đang hội nhập sâu rộng với thị trường thế giới. Thông tin từ Báo cáo giúp các nhà quản lý đưa ra các chính sách sát thực tế, giảm thiểu rủi ro về thị trường và thúc day ngành phát triển bền vững trong tương lai.
Các thông tin về ngành thé hiện trong Báo cáo kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội hợp tác cho các bên liên quan, đặc biệt giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành có cùng chung mối quan tâm, giữa các doanh nghiệp trong ngành và các bên liên quan thuộc ngành khác, tạo động lực mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng phát triển của mô hình sản xuất kinh doanh tiêu điền ở tỉnh Quang Bình” của Bùi Dũng Thé Trường Đại học Kinh tế Huế va Tran Tự Lực Trường Đại học Quang Bình đã đánh giá hiệu qua kinh tế, các nhân té ảnh hưởng đến năng suất sản xuất, chuỗi giá trị gia tăng sản phẩm của mô hình CSTD Quang Binh từ đó đề xuất những giải pháp như: tăng cường công tác khuyến nông và chuyền giao khoa học kỹ thuật; giảm chi phi sản xuất thông qua hợp tác liên kết, tăng cường công tác quản ly,.; giảm thiêu rủi ro thông qua các biện pháp như đa dang hóa cây trồng, chính sách hướng dẫn khuyến cáo rủi ro, công tác quy hoạch phải xác định rõ vị trí trồng thích hợp, chọn giống, .; tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm cao su và các giải pháp về tài chính, đất đai, các dịch vụ sản xuất dam bảo cho hộ sản xuất CSTD có kỹ thuật tổ chức sản xuất, đủ vốn mở rộng quy mô và có mối liên kết chặt chẽ với các thành phần trong hệ thống sản xuất kinh doanh cao su. Báo cáo “Liên kết tiêu thụ cao su thiên nhiên từ hộ tiêu điền, thực trạng và một số khía cạnh chính sách” là sản phẩm của Té chức Forest Trends phối hợp với Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) va Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA). Báo cáo dé bồ sung thông tin về các liên kết trong tiêu thụ cao su tiểu điền tại Việt Nam, tìm hiểu về thực trạng các mối liên kết tiêu thụ cao su thiên nhiên giữa các hộ tiêu điền với các cá nhân, đơn vị trong chuỗi cung cao su thiên nhiên như các tư thương, các nhà máy, doanh nghiệp chế biến mủ cao su.
Báo cáo cũng giúp làm rõ những thuận lợi và khó khăn của các bên tham gia trong liên kết. Dựa vào thông tin thu thập được nêu trên, đề xuất một số chính sách và giải pháp thúc đây, hỗ trợ chuỗi cung ứng cao su tiêu điền đáp ứng các yêu cầu của thị trường về khía cạnh hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và bền vững. Khóa luận tốt nghiệp tác giả Bùi Văn Anh, trường Đại học Nông Lâm TP HCM về “ Thiết lập dự án kinh doanh quán cà phê tại TP.Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước”. Tác giả đã phân tích nhu cầu của khách hàng ở mọi lứa tuổi dé từ đó xác định được khách hàng tiềm năng mà quán hướng đến.
Bằng cách sử dụng các phương pháp phân tích, tính toán các chỉ số liên quan một cách đầy đủ, khoa học để xác định tính khả thi khi thực hiện dự án. Khóa luận của tác giả Hoàng Thị Thảo Quyên, trường ĐH Nông Lâm TP HCM về “ Thiết lập dự án kinh doanh quán trà sữa Daisy House khu vực TP Dĩ An”. Tác giả đã tập trung phân tích phân tích thị trường ăn uống của giới trẻ, lập các kế hoạch marketing, thiết lập bộ máy nhân sự, phân tích tài chính của dự án, từ đó xác định tính khả thi của dự án thông qua những tính toán cụ thé nhằm đưa ra những chiến lược kinh doanh, chi phí phù hợp đề đạt được kết quả doanh thu như dự kiến.2 Nghiên cứu nước ngoài Bai báo cáo “The Economics of Smallholder Rubber Farming in a Mountainous Region of Southwest China: Elevation, Ethnicity, and Risk” của nhóm tac gia Shi Min, Hermann Waibel, Georg Cadisch, Gerhard Langenberger, Junfei Bai, Jikun Huang vé thực trạng các hộ cao su tiểu điền ở Trung Quốc. Bài báo cáo nêu lên quan điểm cho thấy rằng trong khi việc mở rộng canh tác cao su tiểu điền ở Tây Nam Trung Quốc đã đóng góp vào nền kinh tế nông thôn địa phương, nó cũng gây ra những hậu quả tiêu cực về môi trường.
Tính kinh tế và rủi ro tiềm an của việc canh tác cao su tiểu điền vẫn chưa rõ ràng do thiếu bằng chứng định lượng. Dựa trên dir liệu được thu thập trong một cuộc khảo sát toàn diện về 612 nông dân trồng cao su tiêu điền ở Xishuangbanna, bài báo cáo này định lượng các khía cạnh kinh tế của canh tác cao su bao gồm sử dụng đất, đầu vào và đầu ra, thành phần thu nhập của hộ gia đình và rủi ro. Đặc biệt, báo cáo đã so sánh sự khác biệt trong các thông số này liên quan đến dân tộc và độ cao. Kết quả cho thấy cao su đã chiếm lĩnh nền kinh tế nông thôn ở vùng trồng cao su Xishuangbanna, nơi gần 80% điện tích đất nông nghiệp được dành cho cao su.
Trung bình, canh tác cao su mang lại hơn 40% thu nhập của các hộ tiểu điền. Mặc dù canh tác cao su tiểu điền nói chung mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng rất đễ bị ảnh hướng bởi biến động giá cả. Việc mở rộng cao su cũng làm giảm sự đa dạng hóa và do đó làm tăng rủi ro thu nhập hộ gia đình. Quan trọng nhất, phân tích của tác giả cho thấy rằng hiệu quả kinh tế của việc canh tác cao su tiểu điền là khác nhau ở các nhóm dân tộc khác nhau và ở các độ cao khác nhau.
Kết quả của nghiên cứu này cung cấp thông tin định lượng quan trọng về canh tác cao su tiểu điền có thé cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách và hướng dẫn các nghiên cứu trong tương lai. Business Wire (dich vụ chuyền hóa thông tin doanh nghiệp thành tin tức va phat hành tới các hãng thông tan, cơ quan báo chí, cơ quan điều phối, cô đông và nhà dau tư) đăng tải báo cáo "Research Report on Vietnam's Natural Rubber Industry, 2022-2031" vào ngày 16/8/2022, theo bao cáo này, các doanh nghiệp cao su Việt Nam đang mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao sản lượng của ngành cao su Việt Nam. Do việc sử dụng cao su thiên nhiên ở hạ nguôn đa dạng và nhu câu toàn câu rât lớn, nên có nhiêu cơ hội đầu tư trong cả trồng trọt và buôn bán cao su tự nhiên. Nhà phân tích kỳ vọng xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong giai đoạn 2022-2031.
Về môi trường trồng trọt, Việt Nam có lợi thế tự nhiên trong việc trồng cây cao su do điều kiện địa lý đặc thù. Năm 2021, diện tích trồng cây cao su cả nước của Việt Nam đạt khoảng 1 triệu ha, diện tích trồng tập trung chủ yêu ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, trong đó vùng Đông Nam Bộ có diện tích trồng lớn nhất khoảng 572. vùng trồng quốc gia. Sản lượng xuất khâu cao su thiên nhiên của Việt Nam rất lớn và đứng thứ ba trên thé giới.
Trong tổng lượng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam, lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên chỉ đứng sau lương thực, và cao su thiên nhiên là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Thị trường xuất khâu chính của cao su thiên nhiên của Việt Nam là Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, trong đó Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2021, Việt Nam xuất khâu khoảng 1,52 triệu tấn cao su sang Trung Quốc, chiếm khoảng 71% tông lượng xuất khâu. Bài báo cáo phân tích được một điểm thú vi của cao su thiên nhiên Việt Nam là đặc điểm là sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam thấp hơn sản lượng xuất khẩu.
Năm 2021, sản lượng cao su thiên nhiên chỉ đạt 1,23 triệu tan, ít hơn 0,9 triệu tan so với lượng xuất khâu. Điều này là do các doanh nghiệp Việt Nam chủ động trồng cây cao su không chỉ trong lãnh thổ của mình mà còn ở các nước láng giềng như Campuchia và Lào, được thu hoạch và vận chuyên về Việt Nam dé sơ chế trước khi xuất khâu. Sản lượng cao su tự nhiên bên ngoài Việt Nam không được tính vào sản lượng hàng năm của chính Việt Nam, do đó gây ra hiện tượng độc đáo này. Bên cạnh những van dé mang tính tong quan trên, các nhà nghiên cứu còn tập trung nghiên cứu đến các tiểu điền cao su Việt Nam, báo cáo nêu rõ tại Việt Nam, các cao su tiêu điền đã trở thành một trong những bộ phận quan trọng nhất của ngành cao su.
Đặc biệt trong sản xuất cao su thiên nhiên, nguồn cung của các nông trường cao su tiểu điền chiếm hơn 60% tổng sản lượng. Điều đó cho thấy, các hộ cao su tiểu điền tuy có diện tích trồng nhỏ, nhưng van là một mắc xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nguồn cao su nguyên liệu.