Động từ chủ động trong tiếng Việt - Luận văn Thạc sĩ của Gia Thị Đậm

Luận văn nghiên cứu chi tiết động từ chủ động trong tiếng Việt, phân tích đặc điểm ý nghĩa, hoạt động ngữ pháp và các tiểu loại động từ liên quan.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Động Từ Chủ Động Trong Tiếng Việt

Động từ chủ động là một trong những nhóm động từ quan trọng nhất trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Đây là những động từ chỉ hành động xuất phát từ chủ thể, thể hiện ý chí, mục đích và khả năng kiểm soát của người thực hiện hành động. Khác với động từ không chủ động, động từ chủ động luôn gắn liền với sự tham gia tích cực của chủ ngữ. Chủ ngữ bên động từ chủ động phải mang tính đặc trưng của "người hay vật có khả năng thực hiện hành động một cách chủ động". Sự phân biệt giữa động từ chủ động và các loại động từ khác giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cấu trúc câu và mối quan hệ giữa các thành phần trong câu tiếng Việt. Việc nghiên cứu động từ chủ động có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn đối với ngôn ngữ học và giáo dục ngôn ngữ.

1.1. Đặc Điểm Ý Nghĩa Của Động Từ Chủ Động

Động từ chủ động chỉ những hành động mà chủ thể có thể làm chủ, điều khiển và có chủ đích. Các động từ chủ động như "đi", "viết", "xây dựng" đều thể hiện hành động có chủ ý từ người thực hiện. Đặc điểm nổi bật là chủ ngữ bên cạnh động từ chủ động luôn là "người hay vật có khả năng thực hiện hành động". Hành động được biểu thị bởi động từ chủ động có tính chủ định cao, thường mang mục đích rõ ràng và có kết quả cụ thể.

1.2. Ranh Giới Giữa Động Từ Chủ Động Và Không Chủ Động

Ranh giới giữa động từ chủ độngđộng từ không chủ động được xác định dựa trên khả năng chủ ngữ kiểm soát hành động. Động từ chủ động yêu cầu chủ ngữ có khả năng làm chủ hành động, trong khi động từ không chủ động biểu thị những hành động xảy ra mà chủ ngữ không thể kiểm soát hoàn toàn. Ví dụ: "Tôi viết bài" (chủ động) so với "Tôi bị cảm" (không chủ động). Sự phân biệt này rất quan trọng trong phân tích ngữ pháp và cấu trúc câu tiếng Việt.

II. Phân Loại Động Từ Chủ Động

Động từ chủ động trong tiếng Việt được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, động từ chủ động chia thành các nhóm khác nhau. Một cách phân loại quan trọng là dựa vào đặc điểm hướng tác động của động từ: động từ chủ động nội hướng chỉ những hành động liên quan đến chủ thể thực hiện, trong khi động từ chủ động ngoại hướng chỉ những hành động có tác động từ chủ thể tới đối tượng khác. Cách phân loại khác dựa vào kết trị của động từ, bao gồm các động từ chủ động đòi hỏi một chủ ngữ bắt buộc, hai bổ ngữ bắt buộc hoặc nhiều hơn. Sự phân loại này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động ngữ pháp của từng nhóm động từ chủ động cụ thể.

2.1. Động Từ Chủ Động Nội Hướng

Động từ chủ động nội hướng chỉ những hành động chỉ liên quan đến chủ thể thực hiện, không tác động trực tiếp tới đối tượng nào khác. Ví dụ: "ngủ", "chạy", "nhảy", "cười" đều là những động từ chủ động nội hướng. Những động từ này thường không yêu cầu bổ ngữ trực tiếp object. Chủ ngữ bên cạnh động từ chủ động nội hướng có đặc điểm là "người hay vật có khả năng tự thực hiện hành động".

2.2. Động Từ Chủ Động Ngoại Hướng

Động từ chủ động ngoại hướng biểu thị những hành động có tác động từ chủ thể tới đối tượng khác. Ví dụ: "đánh", "viết", "xây dựng", "tìm hiểu" đều là những động từ chủ động ngoại hướng. Những động từ này thường yêu cầu có bổ ngữ trực tiếp object để chỉ rõ đối tượng chịu tác động của hành động. Động từ chủ động ngoại hướng có tính chỉ định cao, thể hiện mối quan hệ giữa tác nhân và đối tượng.

III. Đặc Điểm Hoạt Động Ngữ Pháp Của Động Từ Chủ Động

Động từ chủ động trong tiếng Việt có những đặc điểm hoạt động ngữ pháp riêng biệt. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất là khả năng kết hợp với các phó từ như "đã", "đang", "sẽ", "vừa mới". Động từ chủ động cũng có khả năng kết hợp với các động từ tình thái như "có thể", "phải", "nên" để bổ sung ý nghĩa về khả năng, bắt buộc hoặc lời khuyên. Ngoài ra, động từ chủ động thường kết hợp với bổ ngữ mục đích để chỉ rõ mục đích của hành động, và có thể kết hợp với bổ ngữ chỉ kẻ hưởng lợi như "cho ai", "để ai". Những đặc điểm ngữ pháp này làm cho động từ chủ động trở thành một nhóm động từ rất linh hoạt trong việc biểu đạt ý tưởng và mối quan hệ giữa các thành phần câu.

3.1. Kết Hợp Với Phó Từ Và Động Từ Tình Thái

Động từ chủ động có khả năng kết hợp tốt với phó từ chỉ thời gian như "đã", "đang", "sẽ". Ví dụ: "Tôi đã viết bài" hoặc "Tôi đang viết bài". Động từ chủ động cũng thường kết hợp với các động từ tình thái để diễn đạt khả năng, bắt buộc hoặc lời khuyên: "Tôi có thể viết bài" hoặc "Tôi phải viết bài". Những kết hợp này giúp làm phong phú ý nghĩa của động từ chủ động.

3.2. Kết Hợp Với Bổ Ngữ Mục Đích Và Kẻ Hưởng Lợi

Động từ chủ động thường kết hợp với bổ ngữ mục đích để chỉ rõ lý do thực hiện hành động: "Tôi viết bài để học hỏi". Động từ chủ động cũng có khả năng kết hợp với bổ ngữ chỉ kẻ hưởng lợi: "Tôi viết bài cho em". Những kết hợp này thể hiện tính năng động và linh hoạt của động từ chủ động trong biểu đạt ý tưởng phức tạp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Động Từ Chủ Động

Việc nghiên cứu động từ chủ động có những ứng dụng thực tiễn rất quan trọng. Đối với ngôn ngữ học, việc phân loại và miêu tả đặc điểm của động từ chủ động giúp hoàn thiện lý thuyết về hệ thống động từ tiếng Việt. Đối với giáo dục ngôn ngữ, hiểu rõ về động từ chủ động giúp học sinh, sinh viên nắm vững ngữ pháp tiếng Việt và sử dụng động từ một cách chính xác trong giao tiếp. Việc phân biệt giữa động từ chủ động và các loại động từ khác giúp người học hiểu rõ hơn về cấu trúc câu và mối quan hệ giữa các thành phần trong câu. Ngoài ra, việc nghiên cứu động từ chủ động còn có ý nghĩa đối với dịch thuật, giúp dịch giả hiểu rõ ý tưởng nguyên tác và dịch một cách chính xác và tự nhiên.

4.1. Ứng Dụng Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Ngôn Ngữ

Hiểu rõ về động từ chủ động giúp giáo viên dạy ngữ pháp tiếng Việt một cách hiệu quả hơn. Việc phân loại động từ chủ động rõ ràng giúp học sinh dễ dàng nhận dạng và sử dụng động từ đúng cách trong bài viết và giao tiếp. Đặc biệt, việc giáo dục học sinh về đặc điểm ngữ pháp của động từ chủ động giúp họ nắm vững cấu trúc câu phức tạp và biểu đạt ý tưởng một cách chính xác.

4.2. Ứng Dụng Trong Dịch Thuật Và Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên

Nghiên cứu động từ chủ động có ứng dụng quan trọng trong dịch thuật giữa các ngôn ngữ. Việc hiểu rõ cơ chế hoạt động ngữ pháp của động từ chủ động tiếng Việt giúp dịch giả dịch một cách chính xác và tự nhiên. Ngoài ra, việc phân loại động từ chủ động cũng có ứng dụng trong xử lý ngôn ngữ tự nhiênphát triển công nghệ ngôn ngữ, giúp máy tính hiểu và xử lý tiếng Việt một cách chính xác hơn.

20/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Động từ trong hệ thống từ loại. Vị trí của động từ trong hệ thống từ loại. Số lƣợng từ trong mỗi ngôn ngữ là rất lớn.

Nhƣng chúng hình thành những hệ thống lớn nhỏ trên cơ sở những đặc điểm giống nhau nào đó. Vậy từ loại là gì? Theo Đinh Văn Đức thì “đó là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đƣợc phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ khác trong ngữ lƣu và thực hiện các chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định” (13. Nhƣ vậy ta có thể hiểu từ loại chính là các lớp từ đƣợc phân định trên cơ sở những đặc điểm về ngữ pháp của từ.

Những đặc điểm ngữ pháp của từ thể hiện ở cả mặt ý nghĩa và cả mặt hình thức ngữ pháp. Hệ thống từ loại của tiếng Việt trƣớc hết bao gồm hai phạm trù lớn: thực từ và hƣ từ. Thực từ: Về ý nghĩa: Thực từ thƣờng gắn với chức năng tri nhận và định danh các đối tƣợng của hiện thực, nghĩa là nó thƣờng mang ý nghĩa từ vựng, biểu thị các sự vật, hành động, trạng thái, tính chất số lƣợng có trong thực tế khách quan. Về hoạt động ngữ pháp: Thực từ có khả năng tham gia xây dựng các loại kết cấu cú pháp khác nhau với nhiều vai trò khác nhau.

Chẳng hạn, từ là một thực từ có thể làm trung tâm của một cụm từ chính phụ (viết bài, viết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 Học viên: Gia Thị Đậm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ sách), làm thành tố phụ cho một thực từ khác hoặc có thể làm thành phần câu. Thực từ có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (ai, gì, làm gì, làm sao, mấy, bao nhiêu…). Hƣ từ: Về ý nghĩa: Hƣ từ là những từ cũng có ý nghĩa nhƣng nghĩa của hƣ từ không thể liên hệ tới một đối tƣợng nào trong thực tế. Do đó hƣ từ không thể hiện đƣợc chức năng định danh.

Hƣ từ chỉ bổ sung ý nghĩa ngữ pháp nào đó cho thực từ. Ví dụ: - Đang học, ở thƣ viện. - Chiếc bàn bằng gỗ Về hoạt động ngữ pháp: Hƣ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính trong cấu tạo của cụm từ và của câu. Hƣ từ cũng không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn.

Hƣ từ chỉ có vai trò: - Đi kèm với thực từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ ví dụ nhƣ: sẽ đến, các bạn. - Dùng biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu (Tôi và nó học cùng một lớp. Cuốn sách của tôi) - Dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái (Bạn đi học à? Trời đất ơi!). Tiếp tục phân chia khối thực từ và hƣ từ dựa vào đặc điểm ý nghĩa và hình thức đã đƣợc xác định trên đây, ta đƣợc 5 từ loại thực từ (danh từ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 Học viên: Gia Thị Đậm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ động từ, tính từ, số từ, đại từ) và 5 từ loại hƣ từ (phó từ, trợ từ, quan hệ từ, tiểu từ và thán từ).

Trong tập hợp các thực từ tiếng Việt gồm ba loại chủ yếu: danh từ, động từ, tính từ. Số từ và đại từ kỳ thực có những điểm không thuần nhất trong tập hợp các thực từ tiếng Việt nhƣng chúng lại không phải là hƣ từ. Trong ba từ loại cơ bản này (danh từ, động từ, tính từ) có nhiều sự khác biệt nhau về ý nghĩa ngữ pháp, về khả năng kết hợp với từ chứng và khả năng giữ chức năng vị ngữ trong câu. Trong các ngôn ngữ thuộc họ Ấn – Âu, mức độ khác biệt giữa động từ và tính từ rất rõ, đặc biệt là ở mặt hoạt động ngữ pháp của chúng.

Do đó, tính từ biểu lộ nhiều đặc điểm gần gũi với danh từ hơn mà khác biệt với động từ. Chẳng hạn ở tiếng Nga, tính từ có quan hệ chặt chẽ với danh từ và luôn luôn tƣơng hợp với danh từ về các phạm trù giống, số, cách. Hơn nữa, tính từ hạn chế vai trò làm vị ngữ độc lập (khi làm vị ngữ, tính từ cần biến đổi thành hình thức ngắn đuôi hoặc cần có sự trự giúp của động từ). Ở tiếng Việt, tính từ và động từ gần gũi với nhau ở nhiều phƣơng diện: Về ý nghĩa: có thể quan niệm cả hai từ loại này đều biểu hiện ý nghĩa đặc trƣng của thực thể, đối lập với danh từ là từ loại biểu hiện thực thể.

Về khả năng kết hợp trong cụm từ: cả động từ và tính từ đều có thể kết hợp với các nhóm phó từ nhƣ: không, chưa, chẳng, đã, cũng, đều. Ví dụ: Động từ (chạy) Tính từ (xấu) Không + + Chƣa + + Chẳng + + Cũng + + Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 Học viên: Gia Thị Đậm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Đều + + Về khả năng đảm nhiệm các thành phần câu: cả động từ và tính từ đều có thể đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu, đặc biệt là các chức năng vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Hơn nữa, cả hai đều có thể làm vị ngữ trực tiếp. Điều này không xảy ra ở từ loại danh từ (danh từ không thể làm vị ngữ trực tiếp).

Chính vì sự gần gũi này nên đã từng có ý kiến cho rằng trong tiếng Việt hai từ loại này nằm trong một phạm trù từ loại chung là vị từ (hoặc thuật từ). Còn trong ngôn ngữ Ấn - Âu thì tính từ với danh từ hợp thành một từ loại lớn là tĩnh từ đối lập với động từ. Trong giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Bùi Minh Toán có đƣa ra sơ đồ biểu hiện các quan hệ ấy nhƣ sau: Từ loại Danh từ Tính từ Động từ Ngôn ngữ Tiếng Nga, Pháp Tĩnh từ Động từ Tiếng Việt Danh từ Vị từ Trong công trình nghiên cứu Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó, Nguyễn Thị Quy đã đi xa hơn trong xu hƣớng “Từ chối phân biệt động từ và tính từ để đi tìm những sự phân biệt có thật. Sự phân biệt có thật đó, theo tác giả, đƣợc thể hiện trong cách phân loại sự thể của Dik: [± Động] [+Chủ ý] [+Động] [-Động] Biến cố Tình trạng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Học viên: Gia Thị Đậm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ [± chủ ý] Hành động (nằm, ở) (đánh, chạy) [-Chủ ý] Quá trình Trạng thái (rơi, phai) (to, sợ) Không thể phủ nhận tính đúng đắn và ý nghĩa quan trọng của chủ trƣơng phân biệt vị từ theo sự đối lập [±động] và [± chủ ý] của Dik đƣợc trình bày trên đây.

Tuy nhiên, một điều cũng rất quan trọng là vấn đề xác định các tiêu chí khoa học cho phép vạch đƣợc ranh giới thỏa đáng giữa các phạm trù trong nội bộ vị từ. Có lẽ những tiêu chí phân biệt động /tĩnh mà Nguyễn Thị Quy kể ra chƣa đầy đủ và hợp lý nên việc vận dụng các tiêu chí này vào phân loại vị từ tiếng Việt cho ta những kết quả có chỗ cần nghiên cứu lại. Ví dụ, theo kết quả phân loại thì phạm trù động (biến cố) bao gồm hành động (đánh, chạy) và quá trình (rơi, phai); còn phạm trù tĩnh bao gồm tƣ thế (nằm, ở) và trạng thái (to, sợ). Những thắc mắc, nghi ngờ mà kết quả phân loại trên đây gây ra là: a.

Nếu việc xếp nằm vào vị từ chỉ tƣ thế, sợ vào vị từ chỉ trạng thái có thể chấp nhận đƣợc thì việc xếp ở vào vị từ chỉ tƣ thế và to vào vị từ chỉ trạng thái thật khó hình dung. Nhƣ đã biết, một trong những đặc điểm của quá trình là có sự khởi đầu, sự tiếp diễn và kết thúc. Xét theo đặc điểm này thì ở, sợ rõ ràng có nhiều đặc tính của quá trình (có thể nói: bắt đầu ở, bắt đầu sợ,tiếp tục ở, tiếp tục sợ, không ở nữa, không sợ nữa. Theo Nguyễn Thị Quy, “ một đặc trƣng khiến cho một số sự thể [+động] khu biệt với các sự thể [- động] là sự có mặt của âm thanh: chỉ một biến cố, một sự kiện động mới gây ra tiếng động”(31.

Nếu nhận xét trên là đúng thì việc tác giả xếp ngủ vào loại vị từ tĩnh là việc làm tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 Học viên: Gia Thị Đậm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ mâu thuẫn (với ngƣời có tật ngủ ngáy hay ngủ mơ thì ngủ có thể gây ra tiếng động). Cũng nhƣ vị từ sợ mà tác giả xếp vào loại vị từ tĩnh không phải hoàn toàn không gắn với tính chất động: trạng thái sợ có thể biểu hiện tính chất động của mình qua run (Anh ta sợ run lên). Một trong những đặc điểm của hành động là gắn liền với phƣơng thức (cách thức, công cụ). Xét theo tiêu chí này thì đứng phải đƣợc coi là vị từ hành động (hoặc có mang tính chất của vị từ hành động) vì đứng đòi hỏi công cụ.

Nếu thừa nhận đứng là vị từ hành động thì cần phải xem xét lại các vị từ ngồi, nằm có nhiều nét tƣơng đồng với đứng. Nhƣ vậy, có thể nói rằng so với cách phân loại vị từ thành động từ và tính từ cách phân loại vị từ thành vị từ động và vị từ tĩnh (xét ở mặt tiêu chí và cách vạch ranh giới cụ thể mà Nguyễn Thị Quy trình bày ở trên) chƣa hẳn đã ít khiếm khuyết hơn. Chúng tôi cho rằng trong việc phân loại vị từ, điều quan trọng không phải chỉ là tên gọi, là hƣớng đi mà còn là hiệu lực của tiêu chí đƣợc xác định. Về thực chất, cách phân loại vị từ thành vị từ động, vị từ tĩnh không đối lập, cũng không khác quá xa mà rất gần với cách phân loại vị từ thành động từ, tính từ.

Đối với hai cách phân loại này, vấn đề quan trọng cần giải quyết là vƣợt qua những khó khăn để xác định rõ ràng, đúng đắn nội hàm và ngoại diên của các khái niệm đƣợc biểu thị. Không giống với tiếng Anh, Pháp…, tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình (do trong thành phần cấu tạo của từ không có bộ phận biến tố) nên giữa các từ loại không có sự đối lập về hình thái. Chẳng hạn, trong tiếng Anh “số nhiều” đƣợc biểu thị bằng phụ tố s và “số ít” bằng phụ tố zêrô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ