Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu động mạch ngực trong trên người Việt Nam

Tìm hiểu đặc điểm giải phẫu động mạch ngực trong trên người Việt Nam. Nguồn tư liệu y học quan trọng cho phẫu thuật tim mạch, bắc cầu động mạch vành.

Chuyên ngành

Giải Phẫu Người

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

2024

140
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc Điểm Giải Phẫu Cơ Bản của Động Mạch Ngực Trong

Động mạch ngực trong (Internal Thoracic Artery - ITA) là một mạch máu quan trọng trong hệ tim mạch con người, đặc biệt là ở người Việt Nam. Nghiên cứu của PGS. Võ Huỳnh Trang từ Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh đã xác định các đặc điểm giải phẫu độc đáo của động mạch này trên quần thể người Việt. Động mạch ngực trong xuất phát từ động mạch dưới khóp, chạy dọc theo thành ngực trước và cung cấp máu cho các cơ quan và mô trong khoang ngực. Những khác biệt giải phẫu này có ý nghĩa lâm sàng quan trọng, đặc biệt trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành và các can thiệp tim mạch khác. Việc hiểu rõ cấu trúc này giúp các bác sĩ lâm sàng lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật phù hợp nhất.

1.1. Vị Trí và Đường Kính Động Mạch

Động mạch ngực trong nằm ở vị trí cặp chính xác so với bờ ngoài xương ức, với khoảng cách trung bình được xác định qua nghiên cứu. Đường kính động mạch tại nguyên ủy và các vị trí khác nhau cho thấy sự biến thiên đáng kể. Những số liệu này rất quan trọng cho lựa chọn kỹ thuật lấy ghép và đánh giá tính năng lâu dài của ghép mạch.

1.2. Mối Quan Hệ Với Các Cấu Trúc Xung Quanh

Thần kinh hoành chạy song song và bắt chéo với động mạch ngực trong tại những vị trí cụ thể. Tĩnh mạch ngực trong có mối liên quan mật thiết với động mạch. Việc nắm rõ những mối quan hệ giải phẫu này giúp phòng tránh biến chứng như tổn thương thần kinh hoành hoặc tĩnh mạch trong quá trình phẫu thuật.

II. Đặc Điểm Mô Học của Động Mạch Ngực Trong

Cấu trúc mô học của động mạch ngực trong gồm ba lớp áo chính: lớp áo trong (tunica intima), lớp áo giữa (tunica media), và lớp áo ngoài (tunica adventitia). Nghiên cứu mô học chuyên sâu trên mẫu người Việt Nam cho thấy những đặc điểm mô học riêng biệt về bề dày các lớp áo, số lượng sợi chun, và mức độ tổ chức mô bao quanh. Lớp áo giữa chứa nhiều sợi chun và cơ trơn, giúp mạch máu có độ đàn hồi tốt. Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống chịu áp lực, độ bền lâu dài của ghép mạch, và đáp ứng thích ứng của mạch với hệ thống tuần hoàn mới sau phẫu thuật.

2.1. Bề Dày Các Lớp Áo và Sợi Chun

Bề dày lớp áo ngoàilớp áo giữa được đo lường chi tiết trong nghiên cứu. Số lượng sợi chun ở mỗi đoạn động mạch ngực trong thay đổi từ nguyên ủy đến vị trí tận cùng, phản ánh sự phân hóa chức năng của mạch máu. Những thay đổi này có ý nghĩa trong việc đánh giá chất lượng mạch số dùng cho ghép.

2.2. Mức Độ Tăng Sinh Nội Mạc

Mức độ tăng sinh nội mạc trong động mạch ngực trong được phân loại và định lượng. Các dạng nguyên ủy khác nhau (theo phân loại Henriquez-Pino) cho thấy những biến thiên mô học quan trọng. Mức độ tăng sinh nội mạc liên quan đến nguy cơ hẹp lòng mạch trong thời gian dài sau ghép.

III. Các Dạng Nguyên Ủy và Biến Thiên Giải Phẫu

Nghiên cứu xác định các dạng nguyên ủy khác nhau của động mạch ngực trong trên quần thể người Việt Nam. Dạng nguyên ủy đề cập đến số lượng và vị trí xuất phát của các nhánh chính từ thân chính. Phân loại động mạch dựa vào số sợi chun và cấu trúc mô học giúp phân biệt các kiểu động mạch khác nhau. Tỷ lệ thân chung của động mạch ngực trong (tức phần chưa phân nhánh) được so sánh với các tác giả khác, cho thấy những khác biệt dân tộc học đáng kể. Việc hiểu rõ các dạng nguyên ủy này rất quan trọng cho việc lựa chọn vị trí cắt động mạch và đánh giá khả năng lấy ghép.

3.1. Phân Loại Dựa Vào Cấu Trúc Mô Học

Phân loại động mạch dựa vào số sợi chun cho phép phân tầng nguy cơ và dự đoán kết quả lâm sàng. Những động mạch có số sợi chun cao thường có độ đàn hồi tốt hơn. Các dạng nguyên ủy khác nhau yêu cầu những kỹ thuật lấy ghép và xử lý khác nhau để đạt hiệu quả tối đa.

3.2. So Sánh Với Các Quần Thể Khác

So sánh tỷ lệ phần trăm vị trí xuất phát của động mạch ngực trong giữa người Việt Nam và các dân tộc khác cho thấy những đặc điểm riêng biệt. Khoảng cách giữa động mạch ngực trong và xương ức cũng có những khác biệt dân tộc học quan trọng. Những khác biệt này nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu cụ thể trên quần thể địa phương.

IV. Ứng Dụng Lâm Sàng và Phẫu Thuật Bắc Cầu Động Mạch Vành

Động mạch ngực trong được công nhận là ghép mạch tối ưu nhất cho phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG). Những đặc điểm giải phẫu và mô học được nghiên cứu chi tiết giúp các bác sĩ phẫu thuật lựa chọn kỹ thuật phù hợp. Tỷ lệ sử dụng động mạch ngực trong tại Việt Nam được ghi nhận qua các nghiên cứu của Võ Thành Nghĩa. Hiện tượng trộm máu (steal phenomenon) và các biến chứng khác được dự phòng tốt hơn khi nắm rõ cấu trúc giải phẫu. Những mẫu ghép mạch dài hạn cho thấy kết quả tốt hơn so với các loại ghép khác, đặc biệt khi sử dụng kỹ thuật lấy ghép thích hợp dựa trên đặc điểm từng bệnh nhân.

4.1. Lựa Chọn Kỹ Thuật Phẫu Thuật

Kỹ thuật lấy ghép động mạch ngực trong được tiêu chuẩn hóa dựa trên đặc điểm giải phẫu địa phương. Vị trí cho nhánh tận được xác định chính xác để đảm bảo lưu lượng máu tối đamạch máu tiến hành tốt. Những kỹ thuật bảo tồn nội mạc được ưu tiên để giảm tổn thương nội mạchạn chế tình trạng tăng sinh nội mạc sau này.

4.2. Kết Quả và Tiên Lượng Dài Hạn

Kết quả ghép mạch sử dụng động mạch ngực trong cho thấy tỷ lệ thông mạch cao sau 5, 10 năm. Biến chứng sớm và muộn được giảm thiểu nhờ hiểu rõ đặc điểm mô họccấu trúc giải phẫu. Những nghiên cứu trên quần thể người Việt cung cấp dữ liệu tiên lượng chính xác để tư vấn bệnh nhân hiệu quả hơn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu của động mạch ngực trong 1. Nguyên ủy, đường đi và liên quan của động mạch ngực trong Động mạch ngực trong hay động mạch vú trong xuất phát từ mặt dưới của động mạch dưới đòn, đi dọc theo cạnh ngoài xương ức, cấp máu cho thành ngực, tuyến vú, mô trung thất, cơ hoành và các cơ thành bụng4,9,10. Động mạch dưới đòn Động mạch ngực trong Xương ức Cơ hoành Hình 1.

Động mạch ngực trong ở thành ngực (Nhìn từ trong) “Nguồn: Netter FH, 2022”11 Động mạch ngực trong xuất phát từ mặt dưới, đoạn phía trong cơ bậc thang trước của động mạch dưới đòn, đối diện thân giáp cổ. 4 Sau khi xuất phát từ động mạch dưới đòn, động mạch ngực trong đi hướng xuống dưới, phía sau đầu trong xương đòn, trước đỉnh phổi để vào ngực. Đường đi của động mạch ngực trong có thể chia thành hai đoạn: đoạn cổ và đoạn ngực9,10,12. 18 1 19 2 3 17 4 16 5 15 6 14 7 13 8 12 10 9 11 1: Cơ ức móng 11: Động mạch cổ ngang 2: Động mạch ngực trong 12: Đám rối cánh tay 3: Xương ức 13: Động mạch cổ lên 4: Xương đòn 14: Động mạch cổ nông 5: Tĩnh mạch dưới đòn 15: Thần kinh hoành 6: Cơ dưới đòn 16: Thần kinh lang thang 7: Màng phổi 17: Tĩnh mạch cảnh trong 8: Xương sườn thứ I 18: Cơ bậc thang trước (đã cắt) 9: Cơ bậc thang trước 19: Thần kinh hoành 10: Động mạch dưới đòn Hình 1.

Liên quan động mạch ngực trong ở đoạn cổ (Nhìn từ trước, bên phải) “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 5 Đoạn cổ: động mạch ngực trong nằm phía sau các cơ dưới móng, mạc dưới móng, tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh trong. Thần kinh hoành thường bắt chéo phía trước động mạch ngực trong. Ban đầu, thần kinh hoành đi ra ở bờ ngoài cơ bậc thang trước, bắt chéo phía trước động mạch ngực trong theo hướng từ ngoài vào trong. Sau đó, thần kinh hoành đi vào bờ trong của động mạch ngực trong.

Xương ức Các cơ gian sườn Động mạch ngực trong Tĩnh mạch ngực trong Cơ ngang Mạc nội ngực ngực Hình 1. Liên quan động mạch ngực trong ở đoạn ngực (Nhìn từ trước, bên phải) “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 Đoạn ngực: động mạch ngực trong đi thẳng xuống, dọc theo bờ ngoài của xương ức, cách bờ ngoài xương ức khoảng 1 – 2cm. Phía trước động mạch 6 là các sụn sườn và cơ gian sườn. Ở 3 khoảng gian sườn trên cùng, mạc nội ngực che phủ phía trước động mạch.

Dưới khoảng gian sườn thứ III, không còn mạc nội ngực che phủ mà thay bằng cơ ngang ngực. Phân nhánh của động mạch ngực trong Động mạch ngực trong cấp máu cho thành ngực, thành bụng, cơ hoành và màng tim. Động mạch ngực trong cho những nhánh sau4,9,10,12: 1. Động mạch tuyến ức Tĩnh mạch tuyến ức Động mạch tuyến ức Tuyến ức Động mạch ngực trong Hình 1.

Động mạch tuyến ức (Nhìn từ trong) “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 7 Động mạch tuyến ức là một nhánh động mạch nhỏ, xuất phát từ động mạch ngực trong ở ngang mức khoảng gian sườn thứ I. Động mạch tuyến ức chỉ tồn tại ở trẻ em. Càng về sau, tuyến ức thoái triển thành mô mỡ nên động mạch tuyến ức cũng dần mất chức năng và biến mất. Các nhánh động mạch ức Động mạch ngực trong cho các nhánh động mạch ức vào sáu khoảng gian sườn trên cùng.

Các động mạch ức là nguồn cấp máu quan trọng cho cơ ngang ngực, màng xương ức và tủy xương. Đa số các trường hợp động mạch ngực trong sẽ cho nhánh động mạch ức đi thẳng vào xương ức. Nhưng có nhiều động mạch ức dạng vòng cung đã được ghi nhận. Các dạng thông nối này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cấp máu cho xương ức.

Động mạch ngực trong Xương ức Động mạch ức Hình 1. Các dạng thông nối của động mạch ức “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 8 1. Động mạch màng ngoài tim hoành Động mạch màng ngoài tim hoành là một nhánh nhỏ, dài, đi cùng với thần kinh hoành để đến cơ hoành. Chúng đi xuống, giữa màng phổi và màng ngoài tim.

Cuối cùng, động mạch màng ngoài tim hoành thông nối với động mạch cơ hoành và động mạch hoành dưới. Thần kinh hoành Động mạch dưới đòn Động mạch ngực trong Động mạch màng ngoài tim hoành Hình 1. Động mạch màng ngoài tim hoành (Nhìn từ trước) “Nguồn: Netter FH, 2022”11 1. Các nhánh động mạch trung thất Các nhánh trung thất của động mạch ngực trong đến cấp máu cho các mô và hạch bạch huyết của trung thất trước và di tích của tuyến ức.

Các nhánh màng ngoài tim Các nhánh màng ngoài tim của động mạch ngực trong cấp máu cho vùng trước của màng ngoài tim. Các nhánh gian sườn trước Động mạch ngực trong cho nhánh gian sườn trước vào 5 hay 6 khoảng gian sườn trên cùng. Động mạch gian sườn trước đi trong các rãnh dưới sườn. Trước khi vào rãnh dưới sườn, động mạch gian sườn trước cho động mạch trên sườn.

Các nhánh gian sườn trước cấp máu cho cơ gian sườn và cho các nhánh xuyên đến cơ ngực lớn, mô tuyến vú. Sau đó, chúng thông nối với các nhánh động mạch gian sườn sau. Các nhánh xuyên Các nhánh xuyên của động mạch ngực trong đi cùng với các nhánh bì của thần kinh gian sườn đến cấp máu cho cơ ngực lớn và da vùng ngực. Ở nữ, các nhánh xuyên thứ hai, thứ ba và thứ tư góp phần cấp máu cho tuyến vú.

Các nhánh xuyên có thể xuất phát chung thân với động mạch ức hay động mạch gian sườn trước. Động mạch cơ hoành Đến khoảng gian sườn thứ VI, động mạch ngực trong cho hai nhánh tận là động mạch cơ hoành và động mạch thượng vị trên. Động mạch cơ hoành đi trong ngách ức sườn, xuyên qua cơ hoành ở ngang mức xương sườn VII để cấp máu cho cơ hoành. Động mạch thượng vị trên Động mạch thượng vị trên đi giữa các sụn sườn ở phía trước, và cơ hoành, cơ ngang ngực ở phía sau.

Sau đó, động mạch thượng vị trên đi vào cơ thẳng bụng. 10 Khi vào bao cơ thẳng bụng, động mạch thượng vị trên xuyên qua cơ thẳng bụng để cấp máu cho cơ này và cho những nhánh thông nối với động mạch thượng vị dưới. Ngoài ra, động mạch thượng vị trên còn cho những nhánh xuyên, cấp máu cho da vùng bụng, mỏm mũi kiếm xương ức và dây chằng liềm. Động mạch sườn bên Động mạch sườn bên hay còn gọi là động mạch ngực trong phụ là một nhánh bên hiếm gặp của động mạch ngực trong.

Động mạch sườn bên thường xuất phát từ động mạch ngực trong ở khoảng gian sườn thứ I. Động mạch đi dọc theo đường nách giữa và cho nhánh vào các khoảng gian sườn trên cùng. Các nhánh gian sườn này thông nối với các động mạch gian sườn trước và động mạch gian sườn sau Động mạch ngực trong Động mạch gian sườn trước Nhánh xuyên Hình 1. Nhánh xuyên xuất phát chung thân với ĐM gian sườn trước (Nhìn từ trong) “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 11 1.

Động mạch mỏm mũi kiếm Động mạch mỏm mũi kiếm tồn tại trong khoảng 7% - 10% các trường hợp. Động mạch này đi dọc theo bờ ngoài mỏm mũi kiếm, cấp máu cho phần dưới xương ức và các mô xung quanh. Khi tồn tại động mạch mỏm mũi kiếm, đây là nhánh tận của động mạch ngực trong, có thể tạo thành dạng chia 3 của động mạch ngực trong. Động mạch mỏm mũi kiếm đóng vai trò quan trọng trong việc cấp máu cho xương ức và vùng quanh mỏm mũi kiếm.

Tổn thương động mạch mỏm mũi kiếm có thể làm giảm tưới máu xương ức, làm tăng tỷ lệ viêm xương ức sau mổ4. Động mạch cơ hoành Động mạch thượng vị trên Động mạch ngực trong Động mạch mỏm mũi kiếm Hình 1. Trường hợp tồn tại nhánh động mạch mỏm mũi kiếm (Phẫu thuật mở lồng ngực và nhìn từ trong) “Nguồn: Berdajs D, 2011”4 12 1. Đặc điểm mô học của động mạch ngực trong Về mặt mô học, động mạch được cấu thành từ 3 lớp là: lớp áo trong, lớp áo giữa và lớp áo ngoài14,15,16.

- Lớp áo trong có lớp biểu mô gồm các tế bào vảy nằm trong cùng, tiếp xúc trực tiếp với dòng máu nên được gọi lớp nội mô. Tiếp đến là lớp màng đáy vừa có chức năng kết nối lớp nội mô và lớp mô liên kết lỏng lẻo ở ngoài hơn, vừa đảm bảo độ chắc và tính mềm dẻo cho động mạch. Lớp ngoài cùng của áo trong là lớp mô liên kết lỏng lẻo có thành phần chủ yếu là các sợi chun và sợi collagen. Sợi chun tạo nên tính mềm dẽo và co dãn cho thành mạch.

Trong khi đó, sợi collagen giúp thành mạch bền chắc hơn. Ở những động mạch lớn và gần tim, sợi chun của áo trong tạo thành một lớp dày hơn, được gọi là màng chun trong bao quanh nội mạc và màng đáy. Màng chun trong không hiện diện ở tĩnh mạch. Lớp áo ngoài Lớp áo giữa Lớp áo trong Cơ trơn Màng chun trong Động mạch của động mạch Màng chun ngoài Thần kinh của động mạch Nội mạc Sợi chun Hình 1.

Các lớp áo của động mạch “Nguồn: Young KA, 2013”17 13 - Lớp áo giữa là lớp dày nhất của động mạch. Thành phần chủ yếu của lớp áo giữa là các tế bào cơ trơn, thường là các thớ cơ vòng sắp xếp không đều nhau trên suốt chiều dài của động mạch. Lớp cơ trơn được nâng đỡ bởi một khung gồm các sợi collagen và sợi chun. Ở những động mạch lớn, lớp sợi chun dày hơn, tạo thành màng chun ngoài.

Cấu trúc này phân cách áo giữa và áo ngoài và không hiện diện ở các động mạch nhỏ và tĩnh mạch. - Lớp áo ngoài là lớp mô liên kết được cấu tạo chủ yếu bởi sợi collagen và sợi chun chiếm tỷ lệ nhỏ. Áo ngoài của động mạch có các động mạch nhỏ để cấp máu nuôi cho chính thành mạch. Lớp áo ngoài Lớp áo ngoài Lớp áo giữa Lớp áo giữa Lớp áo trong Lớp áo trong B.

Động mạch chun A. Động mạch hỗn hợp Lớp áo ngoài Lớp áo giữa Lớp áo trong C. Động mạch cơ Hình 1. So sánh các dạng động mạch “Nguồn: Young KA, 2013”17 14 Dựa theo cấu trúc mô học, động mạch có thể được chia làm ba nhóm16,17: - Động mạch chun gồm động mạch chủ và các động mạch lớn, gần tim và có thành dày.

Các động mạch được đặc trưng bởi sự hiện diện với tỷ lệ cao của sợi chun trong cả ba lớp áo và đường kính thường lớn hơn 10 mm. Điều này giúp cho động mạch chun thích nghi với chức năng dẫn lưu dòng máu dưới áp lực lớn và lưu lượng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ