lời mở đầu và kết luận thì cấu trúc của luận văn gồm các chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về động lực làm việc của ngƣời lao động tại các doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề động lực làm việc của ngƣời lao động tại Công ty cổ phần Lắp máy điện nƣớc – LICOGI. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc của ngƣời lao động tại Công ty cổ phần Lắp máy điện nƣớc - LICOGI. 7 luan an Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và động lực lao động 1. Khái niệm động lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [7, Tr.128] Theo giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lƣc, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân NLĐ”. 57] Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi NLĐ đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Và nhƣ vậy động lực lao đông không có công thức chung. NLĐ là mỗi cá thể độc lập, thực hiện những nhiệm vụ riêng biệt nhau vì vậy cũng có cách tạo động lực khác nhau. Tạo động lực riêng biệt cho mỗi công việc, mỗi NLĐ và mỗi một môi trƣờng cụ thể là khác nhau. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng vào một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ. Động lực lao động mang đặc tính không bị ép buộc hay phụ thuộc vào NLĐ, NLĐ luôn làm việc hăng say khi họ cảm thấy thích thú hoặc mong muốn đạt đƣợc mục đích từ công việc ấy. Và khi làm việc một cách hào hứng nhƣ vậy họ có thể đạt đƣợc kết quả thực hiện công việc một cách tốt nhất Động lực lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tăng năng suất lao động của doanh nghiệp. Động lực lao động chính là nguồn nội lực thúc đẩy NLĐ hăng say hơn, nhiệt tình hơn trong công việc.
Tuy nhiên động lực lao động 8 luan an chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của NLĐ, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Bản chất của động lực lao động + Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trƣờng làm việc cụ thể và một cá nhân cụ thể. Điều này có nghĩa là không có động lực chung chung, mà với mỗi cá nhân khác nhau, với mỗi công việc mà họ đảm nhận khác nhau, với mỗi điều kiện lao động khác nhau mà bản thân NLĐ sẽ có những nỗ lực làm việc khác nhau. + Động lực lao động không phải là cố hữu trong mỗi con ngƣời, nó thƣờng xuyên thay đổi.
Không ai sinh ra mà đã có sẵn động lực lao động cũng nhƣ không có động lực lao động. Vào thời điểm này, động lực lao động cao nhƣng có lúc động lực lao động lại thấp và chƣa hẳn đã tồn tại trong bản thân NLĐ. Chính nhờ đặc điểm này mà nhà quản lý có thể can thiệp, tác động vào NLĐ để họ có thể phát huy đƣợc nỗ lực của mình. + Động lực lao động mang tính tự nguyện, bản thân mỗi NLĐ sẽ tự cảm thấy đƣợc nỗ lực làm việc tùy từng lúc mà họ cảm thấy thoải mái, hứng thú và ngƣời quản lý phải biết rõ đặc điểm này để có thể phát huy động lực làm việc một cách hiệu quả nhất, phải có nghệ thuật để tăng cƣờng tính tự nguyện của NLĐ.
+ Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và sản xuất có hiệu quả trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Động lực lao động giống nhƣ một sức mạnh vô hình từ bên trong con ngƣời thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn, nỗ lực hơn, làm việc không biết mệt mỏi. Tuy nhiên, phải hiểu rằng động lực là một nhân tố chứ không phải là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, tay nghề của NLĐ, và cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc… NLĐ dù không có động lực lao động thì cũng có thể hoàn thành công việc đƣợc giao, vẫn có thể đạt đƣợc yêu cầu của nhà quản lý, bởi trong họ vẫn có trách nhiệm với công việc, có trình độ, có tay nghề và có nghĩa vụ phải làm.
Họ làm việc theo quán tính và khả năng. Nhƣng khi đó, kết quả của công việc lại không phản ánh đúng đƣợc khả năng của họ. Khi làm việc có động lực, không những công việc đƣợc hoàn thành mà họ còn làm đƣợc tốt hơn rất nhiều. Có thể là hoàn thành công 9 luan an việc sớm hơn thời hạn, có thể làm việc vƣợt chỉ tiêu đƣa ra.
Lúc này, khả năng tiềm ẩn của họ đƣợc bộc lộ, và chính điều này sẽ giúp doanh nghiệp phát triển, trở nên vững mạnh hơn, tạo đƣợc thế cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Nhƣ vậy, bản chất của động lực lao động là những gì kích thích con ngƣời hành động để đạt đƣợc mục tiêu nào đó. Mục tiêu mà con ngƣời đặt ra là một cái có ý thức đƣợc phản ảnh bởi động cơ của NLĐ và quyết định hành động của họ. Phân biệt động lực lao động và động cơ lao động Rất nhiều khi chúng ta nhầm lẫn giữa hai khái niệm này.
Việc phân biệt chúng một mặt để thấy rõ đƣợc sự khác nhau giữa chúng, mặt khác để có cái nhìn sâu sắc hơn về động lực lao động. Giống nhau: + Cả động lực lao động và động cơ lao động đều là những cái không thể nhìn thấy đƣợc, mà chỉ quan sát thông qua hành vi của NLĐ để phỏng đoán. + Đều chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân NLĐ. Khác nhau: + Động cơ lao động là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động.
Còn động lực lao động là cái thúc đẩy NLĐ để họ phát triển trong lao động. + Động cơ lao động chịu sự tác động lớn từ bản thân NLĐ, gia đình của họ và môi trƣờng xã hội xung quanh. Còn động lực lao động chịu sự tác động từ phía bản thân NLĐ và môi trƣờng tổ chức nơi họ làm việc. + Nói đến động cơ lao động là nói đến sự phong phú, đa dạng.
Cùng một lúc có thể tồn tại nhiều động cơ. Còn nói đến động lực lao động là nói đến sự biến đổi về mức độ cao hay thấp, có hay không. + Động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: Vì sao NLĐ lại làm việc? Còn động lực làm việc trả lời cho câu hỏi: Vì đâu mà NLĐ làm việc trong tổ chức hiệu quả nhƣ vậy? Nhƣ vậy, nhà quản lý nên quan tâm đến động cơ lao động hơn hay đến động lực lao động hơn? NLĐ vừa là tài nguyên của tổ chức vừa là nhân tố cấu thành nên chi phí sản xuất rất lớn của tổ chức. Đa số các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Cái mà họ quan tâm là làm sao với chi phí bỏ ra thấp nhất nhƣng lại đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Hay nói cách khác, họ quan tâm đến việc làm thế nào để sử dụng hợp lý và khai thác có hiệu quả nhất nguồn lực trong tổ chức. Điều này khẳng 10 luan an định rằng, tổ chức luôn quan tâm đến động lực lao động. Tuy nhiên, động cơ lao động và động lực lao động luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Động cơ là cơ sở, là tiền đề để tạo nên động lực lao động. Vậy nên, một điều quan trọng mà các nhà quản lý cần phải biết đó là: Nếu nắm đƣợc động cơ lao động thì sẽ tìm ra biện pháp để tạo động lực lao động cho nhân viên. Các tiêu chí đánh giá động lực làm việc của người lao động Đánh giá về hiệu quả của các giải pháp tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động là quá trình đánh giá về sự phù hợp giữa các giải pháp tạo động lực với kết quả đạt đƣợc. Nhƣng các chỉ tiêu, số liệu để đánh giá trực tiếp khó thể hiện, vì vậy chúng ta chỉ có thể đánh giá qua các chỉ tiêu gián tiếp bao gồm: Động lực làm việc ảnh hƣởng đến tinh thần làm việc và thái độ làm việc của NLĐ từ đó sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng, khối lƣợng cũng nhƣ hiệu quả của công việc.
Động lực làm việc tốt thì NLĐ sẽ có hành vi tích cực trong thực hiện nhiệm vụ công việc đƣợc giao tốt, Khi NLĐ có động lực làm việc thì mức độ cống hiến sức lao động cho doanh nghiệp tăng lên. Họ sẽ phấn đấu đạt mục tiêu cá nhân để hƣớng đến cho doanh nghiệp đạt mục tiêu chung của cả công ty. Việc tuân thủ các nội quy, quy định, quy chế làm việc của Công ty hoặc tuân thủ sự điều động phân công của cấp trên là một trong những yếu tố cơ bản để hình thành văn hóa doanh nghiệp trong thời gian tới. Trong doanh nghiệp khi tính hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các phòng, ban, đơn vị sản xuất luôn nhiệt tình, và luôn luôn sẵn sàng, có nghĩa là doanh nghiệp có tinh thần đoàn kết vì cả một tập thể vững mạnh.
Một doanh nghiệp mà có đƣợc sự hợp tác và thống nhất ý chí hành động của tất cả mọi ngƣời lao động cùng hƣớng đến một mục tiêu chung, chính là điều này tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp. Nếu ngƣời lao động trong doanh nghiệp là những ngƣời làm việc theo chủ nghĩa cá nhân, thiếu tinh thần đồng đội, thiếu sự hợp tác với đồng nghiệp thì sức mạnh của sức mạnh của doanh nghiệp đó chắc chắn sẽ bị suy yếu.