Luận văn: Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Nghiên cứu thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại quận Ba Đình, Hà Nội. Đánh giá hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lý Văn Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2015

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bức tranh toàn cảnh đời sống văn hóa cơ sở Quận Ba Đình

Quận Ba Đình, với vị thế là Trung tâm hành chính - chính trị quốc gia, không chỉ đóng vai trò trọng yếu về kinh tế, chính trị mà còn là một không gian văn hóa đặc sắc của Thủ đô Hà Nội. Việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Quận Ba Đình là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định trong việc tạo dựng con người mới, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các hoạt động văn hóa tại đây không chỉ nhằm nâng cao đời sống tinh thần nhân dân mà còn góp phần gìn giữ bản sắc, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp. Quá trình này được triển khai đồng bộ từ quận đến các phường, tổ dân phố, thu hút sự tham gia tích cực của toàn thể cộng đồng. Nền tảng cho sự phát triển này là một hệ thống lịch sử - văn hóa phong phú, cùng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng và chính quyền. Thực tiễn cho thấy, khi đời sống văn hóa được quan tâm đúng mức, nó sẽ trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nội dung xây dựng đời sống văn hóa tại Ba Đình bao trùm nhiều lĩnh vực, từ việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Đây là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự chung tay của cả hệ thống chính trị và người dân.

1.1. Vị thế trung tâm và nền tảng văn hóa lịch sử lâu đời

Quận Ba Đình sở hữu một di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá. Nơi đây từng là một phần trọng yếu của Kinh thành Thăng Long xưa, lưu giữ nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Hoàng thành Thăng Long, đền Quán Thánh, chùa Một Cột. Công tác bảo tồn di tích lịch sử Ba Đình luôn được chú trọng, coi đó là nguồn lực để giáo dục truyền thống và phát triển du lịch. Bên cạnh các di tích, Ba Đình còn được biết đến với những làng nghề cổ truyền như hoa Ngọc Hà, đúc đồng Ngũ Xã, giấy gió Yên Thái, tạo nên một bản sắc văn hóa riêng biệt. Nền tảng lịch sử - văn hóa này chính là lợi thế và là cơ sở vững chắc để quận triển khai các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa, đặc biệt là trong việc xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

1.2. Vai trò chiến lược của xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được xem là bước đi nền tảng của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục đích cốt lõi là hình thành nhân cách con người phát triển toàn diện, có ý thức công dân, tôn trọng pháp luật và sống có đạo lý. Hoạt động này còn là một cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, nhằm khẳng định các giá trị nhân văn, tiến bộ, đồng thời kiên quyết bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội. Thông qua việc xây dựng mạng lưới thiết chế văn hóa cơ sở, quận Ba Đình hướng tới tạo dựng một môi trường sống văn minh, an toàn, nơi người dân được phát huy quyền làm chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật.

II. Khó khăn trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Quận Ba Đình

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại quận Ba Đình vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã đặt ra những vấn đề mới cần giải quyết. Một số nơi, phong trào còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về vai trò của văn hóa chưa đầy đủ, đôi khi còn xem nhẹ so với phát triển kinh tế. Việc huy động nguồn lực cho văn hóa cơ sở còn hạn chế, chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách nhà nước. Hơn nữa, sự xuống cấp của một số thiết chế văn hóa cơ sở và sự thiếu hụt các không gian văn hóa công cộng chất lượng cao cũng là rào cản lớn. Việc giải quyết triệt để những hạn chế này đòi hỏi một cái nhìn tổng thể và các giải pháp đồng bộ, từ việc hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về văn hóa đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng dân cư.

2.1. Bất cập trong cơ chế quản lý và nguồn lực đầu tư

Một trong những khó khăn lớn nhất là cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác quản lý nhà nước về văn hóa đôi khi còn chồng chéo, chưa thực sự linh hoạt để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nguồn kinh phí đầu tư cho văn hóa còn hạn hẹp, dàn trải, chưa tập trung vào các công trình trọng điểm. Việc xã hội hóa hoạt động văn hóa đã được triển khai nhưng kết quả chưa như kỳ vọng, chưa thu hút mạnh mẽ các nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng. Tình trạng này dẫn đến việc nhiều nhà văn hóa quận Ba Đình hay các điểm sinh hoạt cộng đồng chưa được đầu tư nâng cấp đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động.

2.2. Hạn chế về chất lượng hoạt động của thiết chế văn hóa

Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở dù đã được quan tâm nhưng hoạt động ở một số nơi còn đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn. Nội dung sinh hoạt văn nghệ quần chúng chưa phong phú, chưa bắt kịp thị hiếu và nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Nhiều trung tâm văn hóa thể thao chưa phát huy hết công năng, chủ yếu phục vụ các hoạt động thể thao đơn giản mà thiếu vắng các chương trình văn hóa, nghệ thuật có chiều sâu, làm giảm hiệu quả trong việc nâng cao đời sống tinh thần nhân dân.

III. Phương pháp nâng cao quản lý đời sống văn hóa cơ sở hiệu quả

Để vượt qua thách thức, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa là giải pháp then chốt. Điều này đòi hỏi một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động của các cấp chính quyền. Cần xác định rõ văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững. Theo luận văn của tác giả Đào Ngọc Diệp, giải pháp hàng đầu là "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở". Sự chỉ đạo phải quyết liệt, nhất quán, được thể chế hóa bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể như Kế hoạch số 96-KH/UBND của UBND quận. Bên cạnh đó, việc đổi mới cơ chế quản lý, phân cấp rõ ràng, tăng cường kiểm tra, giám sát là vô cùng cần thiết. Một phương pháp quan trọng khác là đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động mọi nguồn lực cho văn hóa cơ sở, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo của cộng đồng. Quản lý hiệu quả sẽ giúp các phong trào đi vào thực chất, tránh bệnh thành tích, hình thức.

3.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương

Sự thành công của công tác xây dựng đời sống văn hóa phụ thuộc rất lớn vào vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự điều hành của chính quyền. Cần đưa các mục tiêu văn hóa vào nghị quyết, chương trình hành động và coi đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Theo tài liệu gốc, Quận ủy Ba Đình đã ban hành Chuyên đề số 03-CĐ/QU về "Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng nhằm nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa". Chính quyền các cấp cần cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành các kế hoạch khả thi, bố trí ngân sách hợp lý và chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể phối hợp chặt chẽ để triển khai thực hiện.

3.2. Đổi mới cơ chế quản lý và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa

Cần phải đổi mới cơ chế quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu quả, giảm bớt thủ tục hành chính phiền hà. Đặc biệt, việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa là một hướng đi chiến lược. Nhà nước cần tạo cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư xây dựng, quản lý và khai thác các thiết chế văn hóa cơ sở. Mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa cần được nhân rộng. Việc này không chỉ giải quyết bài toán về nguồn lực cho văn hóa cơ sở mà còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người dân.

IV. Bí quyết phát triển thiết chế và hoạt động văn hóa cộng đồng

Để đời sống văn hóa thực sự thấm sâu vào từng cộng đồng, cần tập trung vào hai yếu tố cốt lõi: hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở và chất lượng của các hoạt động văn hóa cộng đồng. Một hệ thống thiết chế hiện đại, đồng bộ và hoạt động hiệu quả sẽ là nền tảng vật chất quan trọng. Cần quy hoạch lại mạng lưới nhà văn hóa, thư viện, điểm vui chơi công cộng sao cho hợp lý, dễ tiếp cận. Các trung tâm văn hóa thể thao không chỉ là nơi luyện tập thể chất mà phải trở thành hạt nhân của các sinh hoạt văn nghệ quần chúng. Song song với đầu tư cơ sở vật chất, việc đổi mới nội dung và hình thức hoạt động là bí quyết để thu hút người dân. Cần đa dạng hóa các loại hình câu lạc bộ, đội văn nghệ, tổ chức các sự kiện văn hóa mang đậm bản sắc địa phương nhưng vẫn có yếu tố hiện đại. Việc ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa cũng là một hướng đi đột phá, giúp quảng bá hoạt động và tạo ra các hình thức sinh hoạt văn hóa mới mẻ, hấp dẫn.

4.1. Hoàn thiện hệ thống thiết chế và không gian văn hóa công cộng

Giải pháp trọng tâm là rà soát, đánh giá lại toàn bộ hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn. Đối với những cơ sở đã xuống cấp, cần có kế hoạch nâng cấp, sửa chữa. Đối với những khu vực còn thiếu, cần ưu tiên quỹ đất và kinh phí để xây dựng mới, đảm bảo mỗi phường đều có một nhà văn hóa quận Ba Đình hoặc trung tâm văn hóa - thể thao đạt chuẩn. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển các không gian văn hóa công cộng mở như vườn hoa, quảng trường nhỏ, phố đi bộ để tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật đường phố, tạo điểm đến sinh hoạt lành mạnh cho cộng đồng.

4.2. Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

Phong trào này cần được triển khai theo chiều sâu, tránh hình thức. Trọng tâm là nâng cao chất lượng các danh hiệu gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa. Các tiêu chí bình xét phải cụ thể, thực chất, gắn liền với việc chấp hành pháp luật, giữ gìn vệ sinh môi trường, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tương trợ trong cộng đồng. Cần phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, các Ban vận động ở khu dân cư trong việc tuyên truyền, tổ chức các hoạt động và giám sát việc thực hiện quy ước, hương ước văn minh.

V. Kết quả thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa Quận Ba Đình

Thực tiễn triển khai xây dựng đời sống văn hóa tại quận Ba Đình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của người dân. Nổi bật là phong trào xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh được cụ thể hóa thành các quy ước, quy định về hành vi ứng xử văn hóa tại cộng đồng dân cư, cơ quan, trường học. Theo tài liệu gốc, quận đã tổ chức hơn 200 buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp. Các mô hình như gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa ngày càng đi vào thực chất, trở thành hạt nhân trong việc xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh. Công tác bảo tồn di tích lịch sử Ba Đình được kết hợp hài hòa với phát triển du lịch, vừa gìn giữ di sản cha ông, vừa tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Những kết quả này minh chứng cho sự đúng đắn trong chủ trương của Đảng và Nhà nước, cũng như sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân quận Ba Đình trong việc nâng cao đời sống tinh thần nhân dân.

5.1. Thành tựu trong xây dựng người Hà Nội thanh lịch văn minh

Chương trình xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh đã trở thành một cuộc vận động sâu rộng trên địa bàn quận. Các tiêu chí về văn hóa giao tiếp, ứng xử nơi công cộng, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang được tuyên truyền mạnh mẽ. Ngành giáo dục quận đã triển khai hiệu quả các cuộc vận động như “Nhà trường văn hóa, nhà giáo mẫu mực, học sinh thanh lịch”. Kết quả khảo sát được đề cập trong tài liệu gốc cho thấy, có tới 74% người dân được hỏi đánh giá tốt và khá về việc chấp hành pháp luật, và trên 78% đánh giá tốt và khá về quan hệ ứng xử giữa cán bộ với nhân dân.

5.2. Hiệu quả từ các mô hình gia đình văn hóa tổ dân phố văn hóa

Việc xây dựng các danh hiệu văn hóa đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Các gia đình văn hóa không chỉ là những gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ mà còn là tấm gương trong việc giáo dục con cái, thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình. Các tổ dân phố văn hóa là nơi phát huy dân chủ cơ sở, huy động người dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và xây dựng các công trình phúc lợi công cộng. Phong trào này đã trở thành nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển của từng cộng đồng dân cư.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ KHÁI QUÁT VỀ QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Khái niệm đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 1. Khái niệm đời sống văn hóa Khi nói đến đời sống văn hóa người ta thường nhấn mạnh đến một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, quá trình sản xuất và tái sản xuất ra các giá trị văn hóa cũng như sự tổng hòa các hoạt động tinh thần của xã hội như: hoạt động tư tưởng, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng. Như vậy, đời sống văn hóa không chỉ bó hẹp trong những hoạt động thường nhật mang tính chủ quan của con người mà bao trùm toàn bộ phương thức sinh hoạt văn hóa của đời sống tinh thần xã hội.

Xây dựng đời sống văn hóa là tiến hành củng cố và phát huy những thành tựu văn hóa hiện tại, nâng cao những giá trị văn hóa truyền thống để từ đó xây dựng một đời sống tiến bộ theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Đời sống văn hóa là gì? Đời sống văn hoá với tư cách là một thuật ngữ khoa học được ra đời vào thế kỷ XX. Cũng giống như nhiều khái niệm khoa học khác, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “đời sống văn hoá”. Thuật ngữ “đời sống văn hóa” hiện nay được sử dụng khá phổ biến trên sách, báo, văn kiện của Đảng và các phương tiện truyền thông của nước ta.

Tuy nhiên, cho đến nay trong từ điển Việt Nam và nước ngoài vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh về thuật ngữ này. Theo cách tiếp cận của Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta” cho rằng: “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là phức thể những hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu 13 cầu tinh thần”[50, tr. Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội - tức là một nhân cách văn hóa. Hai nhu cầu cơ bản này xuất hiện ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người.

Khi xã hội phát triển càng cao thì đòi hỏi sự đáp ứng nhu cầu cũng phải đạt tới trình độ phát triển tương ứng. Từ hai nhu cầu cơ bản trên hình thành nên nhu cầu văn hóa, thể hiện khía cạnh chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu. Đời sống văn hóa là một bộ phận đặc biệt bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con người, từ việc sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần đến việc giữ gìn, trao đổi và tiêu dùng những sản phẩm đó. Từ hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra các giá trị tinh thần đến việc hưởng thụ các giá trị đó.

Từ cảnh quan, môi trường xung quanh mà ở đó con người sinh hoạt văn hóa, lao động, sáng tạo với những mối quan hệ tinh tế, phong phú song cũng vô cùng phức tạp. Hơn thế, đời sống văn hóa cũng chính là đời sống con người cho nên đời sống văn hóa được biểu hiện ra muôn hình, muôn vẻ trong sinh hoạt văn hóa, trong lao động, trong ứng xử và giao tiếp, trong nỗ lực cải tạo môi trường văn hóa, trong cải thiện đời sống vật chất, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong cuốn sách “Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa” quan niệm: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [44, tr. 14 Trong cuốn “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó.

Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa [27, tr. Trong cuốn “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” của Học viện Chính trị khu vực I - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã nêu ra quan niệm: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người. Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa [28, tr. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa.

Để đi đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hoá, chúng ta phải tiếp cận thêm đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt, giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Trước hết, nói đến đời sống văn hóa là nói đến một bộ phận trong đời sống của con người. Khái niệm “Đời sống” được đưa ra trong Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên là “hoạt động của con người về một 15 lĩnh vực nào đó nói chung” [53, tr. Còn theo Từ điển bách khoa mở, thì ngoài nghĩa nói trên, “đời sống” còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể (đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm…).

Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa… Như vậy, đời sống văn hóa là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. Khẳng định vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: trong công cuộc kiến thiết nước nhà, bốn vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều phải coi trọng ngang nhau. Người còn chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng. Từ đó, Người nêu ra luận điểm phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa.

Người lý giải: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”. Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đời sống văn hóa được hiểu là đời sống tinh thần.

Từ những cách hiểu trên đây về đời sống văn hóa và các lĩnh vực văn hóa, trong phạm vi, yêu cầu của đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn đồng tình với quan niệm của tác giả trên và có bổ sung, đưa ra khái niệm như sau: Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, là phức thể những hoạt động của con người trong sáng tạo, lưu giữ và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng sống của con người và xã hội. Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn 16 hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét cho cùng, sáng tạo văn hóa là sáng tạo các giá trị tinh thần, dù các sản phẩm văn hóa tồn tại cả dạng vật thể (vật thể chính là kết quả thăng hoa cái tinh thần); khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Chính vì thế quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận cụ thể.

Ví dụ, nội dung khảo sát đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa của khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng chưa phát triển, sẽ khác với khu vực, dân cư đô thị. Tức là phải giới hạn phạm vi khảo sát trên cơ sở một quan niệm về văn hóa và đời sống văn hóa nhất định. Khái niệm xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và quản lý xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 1. Khái niệm xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Thuật ngữ “Đời sống văn hoá” đã được sử dụng trong ngành Văn hoá từ năm 1982 và cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.

Nói đến ĐSVH là nói đến một bộ phận trong đời sống của con người. Trước hết là tìm hiểu quan niệm “đời sống” của con người. Quan niệm “đời sống” được đưa ra trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên là “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [53, tr. Từ đó, ta đi đến quan niệm về “đời sống văn hóa”.TS Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu Mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta thì cho rằng: Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn 17 hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động (con người và các dạng hoạt động của nó).

Xét về mặt phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thái sinh hoạt văn hóa tâm linh [50, tr. “Đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ