Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chính sách Đổi mới từ cuối thập niên 1980 đã giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, làm gia tăng sản lượng và đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông sản. Việc tiêu thụ các mặt hàng nông nghiệp trở thành nhiệm vụ quan trọng nhằm giảm sức ép cung ứng và duy trì tăng trưởng kinh tế vùng. Trong hệ thống phân phối thương mại đô thị, chợ truyền thống và đặc biệt là chợ đầu mối giữ vị trí kết nối giữa vùng sản xuất tập trung với thị trường tiêu dùng bán lẻ. Song song đó, khu vực kinh tế phi chính thức tại đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sinh kế cho người lao động di cư từ nông thôn; theo số liệu trích dẫn từ Tổng cục Thống kê và Viện Nghiên cứu Phát triển (Trần Minh Đức, 2011), khu vực kinh tế phi chính thức thu hút khoảng 11 triệu lao động trong tổng số 46 triệu lao động cả nước và đóng góp khoảng 20% GDP. Báo cáo của Vụ Thị trường trong nước cho thấy tính đến hết năm 2017, toàn quốc có 8.539 chợ, trong đó có 83 chợ đầu mối (chiếm 0,97% tổng số chợ).
Chợ đầu mối Long Biên (quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) được thành lập và đưa vào vận hành từ năm 1992 với tổng diện tích 27.148 m², quy tụ 1.087 hộ kinh doanh (ngành hàng hoa quả và rau củ chiếm 77%). Chợ có tính chất đặc thù khi họp về đêm từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau, lưu lượng hàng hóa luân chuyển trung bình từ 250 đến 300 tấn/ngày đêm. Sự vận hành của chợ tạo việc làm cho lượng lớn lao động ngoại tỉnh có trình độ học vấn phổ thông. Tuy nhiên, hoạt động buôn bán đối mặt với nhiều áp lực: biến động giá cả hàng hóa, chi phí thuê mặt bằng, điều kiện vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và tình trạng hao tổn thể lực do làm việc ban đêm kéo dài. Đề tài khóa luận được thực hiện nhằm phân tích thực trạng đời sống của người dân kinh doanh tại đây trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng đời sống của người dân kinh doanh tại chợ đầu mối Long Biên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người dân kinh doanh và thực trạng kinh doanh tại chợ Long Biên.
- Tìm hiểu đời sống vật chất của người dân kinh doanh tại chợ Long Biên.
- Tìm hiểu đời sống tinh thần của người dân kinh doanh tại chợ Long Biên.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đời sống của người dân kinh doanh ở khu vực chợ Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Khách thể nghiên cứu: Các chủ cửa hàng/ki ốt đang trực tiếp hoạt động kinh doanh tại chợ Long Biên, được chia thành hai nhóm: nhóm kinh doanh từ 1 đến dưới 5 năm và nhóm kinh doanh từ 5 năm trở lên.
- Phạm vi không gian: Chợ đầu mối Long Biên, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2022.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai thành tố chính là đời sống vật chất (thu nhập, chi tiêu, trang thiết bị tiện nghi, nhà ở) và đời sống tinh thần (hoạt động giải trí, tham gia cộng đồng, quan hệ xã hội, chăm sóc sức khỏe và sử dụng bảo hiểm y tế).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hai khung lý thuyết xã hội học căn bản cùng các khái niệm chuyên ngành:
- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Mô hình tháp nhu cầu 5 bậc (sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng, thể hiện bản thân) được tác giả sử dụng nhằm nhận diện và phân cấp các nhu cầu của tiểu thương. Trong điều kiện kinh doanh tại chợ đầu mối, ba nhu cầu nổi trội nhất thúc đẩy hành vi mưu sinh của người dân là nhu cầu thu nhập, nhu cầu việc làm và nhu cầu nhận thức/thích ứng với thị trường đô thị.
- Lý thuyết cấu trúc – chức năng: Dựa trên hệ thống quan điểm của xã hội học cấu trúc chức năng (Lê Ngọc Hùng, 2011), nghiên cứu xem đời sống của tiểu thương là một chỉnh thể cân bằng gồm hai tiểu hệ thống gắn bó hữu cơ: đời sống vật chất (thu nhập, tích lũy, nhà ở, tiện nghi) và đời sống tinh thần (sức khỏe, giải trí, giao tiếp xã hội). Sự thay đổi ở một thành tố trực tiếp quy định và điều chỉnh trạng thái của thành tố còn lại trong quá trình thích ứng với môi trường kinh doanh đô thị.
- Hệ thống khái niệm công cụ: Văn bản sử dụng định nghĩa "Kinh doanh" theo Luật Doanh nghiệp (Quốc hội, 2014); khái niệm "Chợ đầu mối" theo Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ và định nghĩa bổ sung về điều kiện cơ sở vật chất - dịch vụ thương mại quy mô lớn của Nguyễn Thế Hưng (2019); khái niệm "Đời sống" dưới góc độ tập hợp các chỉ tiêu định tính và định lượng về điều kiện lao động, sinh hoạt.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai kết hợp định lượng và định tính:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê từ Ban quản lý chợ Long Biên, UBND quận Ba Đình, các công trình khoa học, luận văn và báo cáo của các cơ quan quản lý thương mại.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp qua điều tra bảng hỏi: Tiến hành khảo sát cấu trúc trên mẫu $N = 45$ chủ sạp/ki ốt kinh doanh cố định tại chợ. Mẫu được phân tầng thành hai nhóm thâm niên: Nhóm 1 gồm 20 người có thời gian kinh doanh từ 1 đến dưới 5 năm; Nhóm 2 gồm 25 người có thời gian kinh doanh từ 5 năm trở lên.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, bao gồm 08 tiểu thương (04 người nhóm thâm niên dưới 5 năm và 04 người nhóm thâm niên từ 5 năm trở lên), 01 đại diện Ban quản lý chợ Long Biên và 01 cán bộ chuyên trách thuộc UBND quận Ba Đình.
- Xử lý dữ liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý thống kê mô tả, phân tích tương quan bằng phần mềm SPSS. Dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu được gỡ băng, phân loại theo chủ đề và trích dẫn minh họa cho các phát hiện thực địa.
Nội dung chính theo từng chương
Khóa luận được kết cấu thành 5 phần chính theo bố cục học thuật:
Phần 1: Giới thiệu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của mạng lưới chợ đầu mối nông sản và thực trạng dòng lao động di cư tham gia khu vực kinh tế phi chính thức tại Hà Nội. Xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể), làm rõ đối tượng, khách thể khảo sát (45 chủ hộ ki ốt) và giới hạn phạm vi không gian, thời gian, nội dung nghiên cứu.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận thông qua thuyết nhu cầu của Maslow và thuyết cấu trúc – chức năng; tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động thương mại chợ đầu mối, sinh kế bán hàng rong và đời sống của người lao động di cư nông thôn ra thành thị. Làm rõ các khái niệm then chốt: đời sống, kinh doanh, chợ đầu mối nông sản theo quy định pháp luật hiện hành.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
Miêu tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu tại chợ Long Biên (diện tích 27.148 m², 1.087 hộ kinh doanh, họp từ 22h đêm đến 6h sáng, lưu lượng nông sản 250 - 300 tấn/ngày). Trình bày quy trình chọn mẫu điều tra bảng hỏi ($N = 45$), quy trình thực hiện 10 phỏng vấn sâu, kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS và thiết lập khung phân tích đối sánh giữa hai nhóm thâm niên nghề nghiệp.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần nội dung cốt lõi của khóa luận được phân tích qua 3 nhánh dữ liệu chính:
- Đặc điểm nhân khẩu – xã hội: Phản ánh cơ cấu độ tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú và công việc trước khi tham gia kinh doanh.
- Thực trạng hoạt động kinh doanh: Khảo sát cơ cấu mặt hàng, nguồn nhập hàng hóa, quy mô vốn đầu tư ban đầu, diện tích ki ốt, chi phí thuê sạp mặt bằng và nhu cầu sử dụng lao động làm thuê.
- Đời sống vật chất và tinh thần: Phân tích mức thu nhập bình quân hàng tháng, mức độ hài lòng về tài chính, điều kiện tiện nghi sinh hoạt; phản ánh thực trạng tham gia các hoạt động giải trí, mức độ thăm khám sức khỏe định kỳ và việc sử dụng bảo hiểm y tế.
Phần 5: Kết luận
Tổng hợp các phát hiện chính về tương quan giữa điều kiện kinh tế và chất lượng sống của tiểu thương; chỉ ra sự đánh đổi giữa mức thu nhập tương đối ổn định với áp lực hao tổn sức khỏe thể chất do làm việc ban đêm; nêu các giải pháp quản lý hạ tầng và hỗ trợ an sinh xã hội cho người lao động tại chợ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả điều tra thực nghiệm trên 45 khách thể khảo sát cung cấp các số liệu định lượng cụ thể về đặc điểm nhân khẩu, tổ chức kinh doanh và đời sống của tiểu thương:
| Chỉ báo khảo sát |
Nhóm 1 - <5 năm ($n=20$) |
Nhóm $\ge 5$ năm ($n=25$) |
Toàn bộ mẫu ($N=45$) |
| Cơ cấu độ tuổi |
|
|
|
| - Dưới 30 tuổi |
30,0% |
4,0% |
15,5% |
| - Từ 30 đến dưới 40 tuổi |
45,0% |
24,0% |
33,4% |
| - Từ 40 đến dưới 50 tuổi |
20,0% |
44,0% |
33,4% |
| - Trên 50 tuổi |
5,0% |
28,0% |
17,7% |
| Giới tính |
|
|
|
| - Nam |
30,0% |
36,0% |
33,3% |
| - Nữ |
70,0% |
64,0% |
66,7% |
| Trình độ học vấn |
|
|
|
| - Tiểu học |
20,0% |
24,0% |
22,2% |
| - Trung học cơ sở (THCS) |
45,0% |
44,0% |
44,4% |
| - Trung học phổ thông (THPT) |
20,0% |
20,0% |
20,0% |
| - Trung cấp nghề / CĐ - ĐH |
15,0% |
12,0% |
13,4% |
| Nơi cư trú ban đầu |
|
|
|
| - Ngoại tỉnh (ngoài Hà Nội) |
70,0% |
44,0% |
55,6% |
| - Tại thành phố Hà Nội |
30,0% (6 người) |
56,0% (14 người) |
44,4% |
| Nghề nghiệp trước khi buôn bán ($n=24$) |
|
|
|
| - Làm nông nghiệp |
53,8% |
45,4% |
50,0% |
| - Công nhân nhà máy, xí nghiệp |
30,7% |
27,2% |
29,1% |
| - Thợ xây dựng, thợ điện tự do |
15,3% |
0,0% |
8,4% |
| - Bán hàng rong |
0,0% |
18,1% |
8,4% |
| - Chạy xe ôm |
0,0% |
9,0% |
4,1% |
| Mặt hàng kinh doanh chính |
|
|
|
| - Hoa quả, trái cây |
55,0% |
40,0% |
46,7% |
| - Rau củ quả |
25,0% |
20,0% |
22,2% |
| - Thủy hải sản |
10,0% |
24,0% |
17,8% |
| - Thịt gia súc, gia cầm |
10,0% |
16,0% |
13,3% |
| Nguồn nhập hàng hóa |
|
|
|
| - Nhập khẩu Trung Quốc qua cửa khẩu |
45,0% |
28,0% |
35,6% |
| - Trang trại chăn nuôi, lò mổ |
20,0% |
40,0% |
31,1% |
| - Vùng sản xuất rau ngoại thành (Mê Linh, Đan Phượng...) |
25,0% |
20,0% |
22,2% |
| - Vận chuyển từ miền Nam |
10,0% |
12,0% |
11,1% |
| Vốn đầu tư ban đầu |
|
|
|
| - Dưới 60 triệu đồng |
5,0% |
12,0% |
8,9% |
| - Từ 60 đến dưới 90 triệu đồng |
50,0% |
36,0% |
42,2% |
| - Từ 90 đến dưới 120 triệu đồng |
10,0% |
20,0% |
15,6% |
| - Từ 120 triệu đồng trở lên |
35,0% |
32,0% |
33,3% |
| Diện tích ki ốt sử dụng |
|
|
|
| - Dưới 30 m² |
25,0% |
8,0% |
15,5% |
| - Từ 30 đến dưới 50 m² |
25,0% |
12,0% |
17,8% |
| - Từ 50 đến dưới 70 m² |
35,0% |
44,0% |
40,0% |
| - Từ 70 m² trở lên |
15,0% |
36,0% |
26,7% |
| Chi phí thuê cửa hàng/năm |
|
|
|
| - Dưới 100 triệu đồng/năm |
25,0% |
8,0% |
15,5% |
| - Từ 100 đến dưới 200 triệu đồng/năm |
20,0% |
16,0% |
17,8% |
| - Từ 200 đến dưới 300 triệu đồng/năm |
35,0% |
40,0% |
37,8% |
| - Từ 300 triệu đồng/năm trở lên |
20,0% |
36,0% |
28,9% |
| Tỷ lệ thuê thêm lao động làm việc |
65,0% |
76,0% |
71,1% |
Các kết quả định tính và định lượng bổ sung về đời sống tiểu thương:
- Về đời sống vật chất: Mức thu nhập bình quân của các hộ kinh doanh dao động từ 15 đến 25 triệu đồng/tháng. Đa số tiểu thương hài lòng với mức thu nhập này do cao hơn rõ rệt so với công việc làm nông hoặc lao động phổ thông tại quê nhà. Nguồn thu này cho phép họ trang bị đầy đủ các tiện nghi gia đình cơ bản (tủ lạnh, máy giặt, tivi, xe máy), chi trả tiền thuê trọ tại Hà Nội và tích lũy gửi về phụ cấp gia đình ở quê.
- Về đời sống tinh thần: Đời sống tinh thần còn nghèo nàn và hạn chế. Do nhịp sinh học bị đảo lộn (làm việc chủ yếu từ 22h đêm đến rạng sáng), sau giờ bán hàng, phần lớn tiểu thương chỉ chọn hình thức ngủ nghỉ tại gia đình hoặc nhà trọ để tái tạo sức lao động; họ hầu như không tham gia các hoạt động du lịch, giải trí công cộng hay sinh hoạt đoàn thể.
- Về y tế và an toàn sức khỏe: Người kinh doanh còn mang tâm lý chủ quan, ngại thăm khám sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế lớn do áp lực thời gian và chi phí; tỷ lệ chủ động tham gia và sử dụng bảo hiểm y tế còn thấp, chủ yếu tự mua thuốc điều trị khi ốm đau nhẹ.
Đóng góp của nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Cung cấp khung tiếp cận xã hội học kết hợp giữa thuyết nhu cầu Maslow và thuyết cấu trúc - chức năng để phân tích thực trạng sinh kế của nhóm lao động thương mại trong khu vực kinh tế phi chính thức tại đô thị lớn.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về chi phí thuê mặt bằng, quy mô vốn, nguồn cung ứng hàng hóa và mức thu nhập thực tế của tiểu thương tại chợ đầu mối lớn nhất trung tâm Hà Nội, làm cơ sở thực tế cho công tác quản trị chợ và hoạch định an sinh xã hội địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ các giới hạn cụ thể trong quá trình thực hiện:
- Giới hạn về quy mô mẫu: Mẫu khảo sát định lượng dừng lại ở quy mô nhỏ ($N = 45$), được chọn chủ yếu từ danh sách các chủ sạp ki ốt có đăng ký tại chợ; nghiên cứu chưa bao quát được các đối tượng kinh doanh vãng lai không có điểm bán cố định hoặc nhóm lao động bốc vác, cửu vạn phụ việc tại chợ.
- Giới hạn về phạm vi không gian và thời gian: Địa bàn điều tra chỉ giới hạn tại chợ đầu mối Long Biên (quận Ba Đình) trong khoảng thời gian từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2022, thời điểm thị trường đang phục hồi sau đại dịch Covid-19 và chịu tác động của hiện tượng biến động giá cả vật tư.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi mở việc mở rộng cỡ mẫu điều tra trên nhiều chợ đầu mối khác của Hà Nội (như chợ cá Yên Sở, chợ gia cầm Hà Vĩ, chợ nông sản Đền Lừ) để so sánh đối chứng; đồng thời đề xuất nghiên cứu sâu hơn về biến động sinh kế dài hạn và cơ chế tiếp cận hệ thống an sinh xã hội chính thức của tiểu thương di cư.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng và mục đích học thuật sau:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Kinh tế phát triển và Quản lý đô thị: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp xây dựng bảng hỏi, thiết kế khung phân tích và kỹ thuật phỏng vấn sâu nhóm lao động di cư đô thị.
- Các nhà nghiên cứu về kinh tế phi chính thức và lưu thông nông sản: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát gốc về cơ cấu chuỗi cung ứng hoa quả (vận chuyển từ cửa khẩu Trung Quốc, miền Nam) và thủy hải sản (từ chợ cá Yên Sở) qua trạm trung chuyển Chợ Long Biên.
- Cơ quan quản lý đô thị và Ban quản lý chợ: Phần phản ánh về chi phí mặt bằng, tình trạng ô nhiễm vệ sinh môi trường, an ninh trật tự đêm và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của tiểu thương cung cấp căn cứ để cải thiện điều kiện hạ tầng và dịch vụ y tế tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức thu nhập bình quân và mức độ hài lòng về đời sống vật chất của tiểu thương chợ Long Biên đạt mức nào?
Thu nhập bình quân của các hộ kinh doanh dao động trong khoảng từ 15 đến 25 triệu đồng/tháng. Đại đa số người được khảo sát thể hiện sự hài lòng với mức thu nhập này vì nó cao hơn đáng kể so với thu nhập từ nghề thuần nông hoặc làm công nhân trước đây, đủ khả năng trang trải tiền sinh hoạt, mua sắm đồ dùng gia đình và gửi tiền tích lũy về quê.
2. Tỷ lệ cơ cấu giới tính và trình độ học vấn của người kinh doanh phản ánh đặc điểm gì?
Nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 66,7% tổng mẫu khảo sát (trong đó nhóm kinh doanh dưới 5 năm nữ chiếm tới 70,0%). Về học vấn, phần lớn người kinh doanh có trình độ học vấn ở mức THCS (44,4%), tiếp đến là bậc tiểu học (22,2%) và THPT (20,0%). Trình độ cao đẳng, đại học hoặc trung cấp nghề chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 13,4%), phản ánh đặc thù kinh doanh chợ là khu vực tiếp nhận nhiều lao động phổ thông không qua đào tạo chuyên môn sâu.
3. Mức vốn đầu tư ban đầu và chi phí thuê mặt bằng kinh doanh tại chợ Long Biên là bao nhiêu?
Mức vốn đầu tư ban đầu phổ biến nhất là từ 60 đến dưới 90 triệu đồng (chiếm 42,2% tổng mẫu), kế tiếp là mức từ 120 triệu đồng trở lên (chiếm 33,3%). Về chi phí thuê ki ốt, mức giá thuê phổ biến nhất nằm trong khoảng từ 200 đến dưới 300 triệu đồng/năm (chiếm 37,8% tổng mẫu) và từ 300 triệu đồng/năm trở lên (chiếm 28,9%), tùy thuộc vào vị trí và diện tích sạp hàng (phổ biến từ 50 m² đến dưới 70 m²).
4. Nguồn hàng nông sản, thực phẩm tại chợ Long Biên được nhập từ những đâu?
Mặt hàng hoa quả trái cây phần lớn được nhập khẩu từ Trung Quốc vận chuyển qua cửa khẩu (chiếm 35,6% tổng nguồn hàng của mẫu khảo sát) và một phần từ các tỉnh miền Nam (11,1%). Các mặt hàng rau củ có khoảng 50% lấy từ vùng chuyên canh ngoại thành Hà Nội như Mê Linh, Đan Phượng, Phúc Thọ (chiếm 22,2% trong mẫu); thịt lợn nhập từ lò mổ Vạn Phúc (Thanh Trì); gia cầm lấy từ chợ đầu mối Thanh Oai; thủy sản nước ngọt nhập buôn từ chợ cá Yên Sở.
5. Đời sống tinh thần và việc chăm sóc y tế của tiểu thương tại chợ gặp những trở ngại gì?
Đặc thù buôn bán ban đêm (từ 22h đêm đến 6h sáng) khiến nhịp sinh hoạt của tiểu thương bị đảo lộn, gây mệt mỏi thể chất kéo dài. Sau giờ làm việc, họ chủ yếu dành thời gian ngủ nghỉ tại nhà trọ, rất ít tham gia hoạt động văn hóa giải trí công cộng. Về y tế, người dân còn tâm lý chủ quan, ngại đến bệnh viện thăm khám định kỳ và mức độ chủ động sử dụng thẻ bảo hiểm y tế còn hạn chế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Ngọc Chi đã phản ánh bức tranh toàn diện và trung thực về đời sống của tiểu thương tại chợ đầu mối Long Biên thông qua cách tiếp cận xã hội học thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc tham gia kinh doanh tại chợ mang lại mức thu nhập tương đối ổn định (15 - 25 triệu đồng/tháng), giải quyết hiệu quả nhu cầu việc làm và nâng cao tiện nghi sinh hoạt vật chất cho lực lượng lao động nông thôn di cư. Tuy nhiên, chất lượng đời sống tinh thần của tiểu thương còn nghèo nàn, chịu nhiều áp lực về thể lực và thiếu sự quan tâm đúng mức đến việc chăm sóc sức khỏe dài hạn do đặc thù lao động ban đêm. Công trình là tài liệu khảo cứu hữu ích cho việc nghiên cứu sinh kế phi chính thức và công tác quản lý thương mại đô thị tại Hà Nội.