Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quản lí nói chung, quản lí giáo dục nói riêng là vấn đề luôn được sự thu hút, quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà quản lí. Vấn đề quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc " Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài", có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường. Trong phát triển đội ngũ giáo viên thì tuyển chọn giáo viên là khâu vô cùng quan trọng.
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ngày 18 tháng 4 năm 2006 cũng khẳng định chúng ta phải: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lí, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng. Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài dù là đảng viên hay người ngoài Đảng”.[12] Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, về giáo dục - đào tạo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu theo chốt”.[13] Qua các Nghị quyết của Đảng cho thấy tầm quan trọng cũng như sự quan tâm, chú trọng của Đảng và nhà nước ta về công tác cán bộ. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lí là một nhiệm vụ hết sức cần thiết và đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học.
Xuất phát từ quan điểm con người là 8 c động lực trực tiếp của sự phát triển, mà giáo dục và đào tạo lại là môi trường để xây dựng đội ngũ nhân lực cho toàn xã hội. Chính vì vậy, trong các Chiến lược phát triển giáo dục đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm chấn hưng và phát triển nền giáo dục nước nhà, trong đó nhấn mạnh giải pháp đổi mới quản lí giáo dục. Đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên và tuyển chọn giáo viên trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam cho phù hợp với tình hình hiện nay. Tìm hiểu thực tế với bất kì ngành nghề hay tổ chức nào cũng đều có những yếu tố đặc thù riêng nên có phương thức và các tiêu chuẩn tuyển chọn nhân lực riêng.
Có nhiều tác giả cũng đã đề cập đến những vấn đề về tuyển dụng nguồn nhân lực lao động, tuyển dụng giảng viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, trường chuyên nghiệp; cũng có các tác giả có các công trình nghiên cứu, các bài viết về hoạt động tuyển dụng giáo viên trong các trường Trung học, Mầm non hệ công lập. Tuy nhiên, mỗi địa phương có một cơ chế tuyển dụng công chức, viên chức và hợp đồng lao động riêng phù hợp với điều kiện về chính trị, xã hội và kinh tế của địa phương đó. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tuyển dụng mà chúng ta cần tìm hiểu: Theo Quản trị nhân sự (Nguyễn Hữu Thân): "Tuyển mộ nhân viên là một quá trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng kí, nộp đơn tìm việc làm. Tuyển mộ là tập hợp các ứng viên lại.
Tuyển chọn là xem ai trong số các ứng viên ấy là người hội đủ các tiêu chuẩn để vào làm việc trong công ty”.[31] Theo giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính Nhà nước (Học viện Hành chính Quốc gia), tuyển dụng là “đưa thêm người mới vào làm việc chính thức cho tổ chức, tức là từ khâu đầu tiên cho đến giai đoạn hình thành nguồn nhân lực cho tổ chức”.[28] 9 c Hiểu một cách đơn giản thì tuyển dụng là lựa chọn người để làm việc. Với ý nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan đơn vị nào có nhu cầu sử dụng nhân lực thì đều phải tiến hành hoạt động tuyển dụng. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh nhiều mặt giữa các đơn vị, việc tuyển dụng nhân lực còn được nâng lên thành tầm chiến lược, nghệ thuật. Vì vậy không thể vận dụng máy móc, cứng nhắc kinh nghiệm hoạt động tuyển dụng giáo viên ở nơi này vào nơi khác mà phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp thực tiễn của mỗi địa phương.
Do đó tôi chọn đề tài “Đổi mới hoạt động tuyển dụng giáo viên tiểu học ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên” nhằm phân tích có cơ sở khoa học thực trạng giáo dục, hoạt động tuyển dụng giáo viên các trường tiểu học trong huyện, từ đó đề xuất phương án và đưa ra các biện pháp có tính cần thiết, khả thi cao về tuyển dụng giáo viên các trường tiểu học huyện Ân Thi, phù hợp với thực tiễn địa phương, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Một số khái niệm liên quan 1. Tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp * Khái niệm viên chức Trong cuộc sống, bên cạnh những nhu cầu vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, con người còn có những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thông tin… Xã hội dần hình thành một bộ phận lao động đảm nhiệm những công việc đó. Ban đầu những người làm công việc này chỉ chiếm một số lượng nhỏ so với lao động tại các các ngành nghề sản xuất khác.
Sự phát triển của xã hội và chuyên môn hóa lao động ngày càng cao khiến cho lực lượng này ngày càng đông đảo và mang tính chất chuyên nghiệp hơn. Tuỳ từng giai đoạn, từng chế độ xã hội mà lực lượng này có tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút trong quản lí, sử dụng và hoạt động cung cấp dịch vụ. Nhưng có 10 c một điểm chung là những người làm công việc này có được một sự tôn trọng từ phía nhà nước và xã hội. Khái niệm viên chức được sử dụng trong các VBQPPL thay đổi theo từng thời kỳ tuỳ thuộc vào quan điểm của nhà nước về đội ngũ này.
Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ "cán bộ, viên chức" để chỉ chung những người làm việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSNCL (Điều 8). Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng, "có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước". Viên chức theo cách hiểu ở trên không được sử dụng nguyên nghĩa trong các VBQPPL có hiệu lực thấp hơn. Tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng là "cán bộ, công chức".
Khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức. Điểm d, điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là "những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội". Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức. Hai đối tượng công chức và viên chức tiếp tục có sự thay đổi tại hai đạo luật mới ban hành là Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Viên chức 2010.
Đối tượng là công chức được liệt kê một cách rõ ràng hơn tại Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ. Người lãnh đạo ĐVSNCL trước đây được xếp vào đối tượng viên chức thì nay chuyển sang nhóm đối tượng công chức. Luật Viên chức định nghĩa “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.[27] Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 11 c Do đó viên chức có thể hiểu là những người làm công việc thuần tuý về chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin.
tại các ĐVSNCL, không trực tiếp tham gia vào công tác quản lí nhà nước. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm "phi hiện vật", dựa trên "kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao". Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác, như một chuyên gia. Theo thống kê, hiện nay có khoảng trên 1,6 triệu viên chức đang làm việc tại các ĐVSNCL.
Đây là lực lượng lao động đông đảo, góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội mà nhà nước đề ra. Việc phân biệt rõ ràng đối tượng nào là viên chức tạo cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho các quy định liên quan tới tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức. * Khái niệm tuyển dụng viên chức Hiểu một cách đơn giản thì tuyển dụng là lựa chọn người để làm việc. Với ý nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào có nhu cầu sử dụng nhân lực thì đều phải tiến hành hoạt động tuyển dụng.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh nhiều mặt giữa các đơn vị, việc tuyển dụng nhân lực còn được nâng lên thành tầm chiến lược, nghệ thuật. Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên, như vậy mới đúng nghĩa là "tuyển".