Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức, quản lý tổng công ty theo mô hình Tập đoàn kinh tế 1. Một số vấn đề chung về Tập đoàn kinh tế 1. Khái niệm, phân loại Tập đoàn kinh tế 1. Khái niệm Tập đoàn kinh tế Ngày nay, thuật ngữ “Tập đoàn kinh tế (TĐKT)” được sử dụng khá phổ biến trong đời sống kinh tế, nhất là trong các văn bản của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy một định nghĩa được thừa nhận chung về TĐKT trong giới học thuật. Một số nhà khoa học gọi TĐKT là tập đoàn kinh doanh. Chẳng hạn, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Tập đoàn kinh doanh là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận [53, tr. Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh “Nhóm doanh nghiệp”, đặc trưng quy mô lớn và mục tiêu tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của TĐKT.
Tuy nhiên, khía cạnh liên kết, nội dung chủ đạo của TĐKT lại được nêu khá mờ nhạt.TSKH Vũ Huy Từ thì: Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn, nó vừa có chức năng sản xuất-kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghệ) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận [55]. Trong định nghĩa này, tác giả đã nêu được các đặc trưng căn bản của TĐKT như: Kinh doanh đa dạng, quy mô lớn, cơ cấu phức tạp và nhấn mạnh tính liên kết, tính mục tiêu của TĐKT nhưng khía cạnh “Nhóm doanh nghiệp” lại không được nêu rõ. Trong Luật doanh nghiệp năm 2005, (Điều 146) TĐKT được coi là một hình thức của nhóm công ty với định nghĩa: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”. Cách định nghĩa này quá nhấn mạnh nhóm công ty mà chưa nêu được các đặc trưng cơ bản khác biệt của TĐKT với các nhóm doanh nghiệp khác.
Từ điển Thương mại Anh - Pháp - Việt dịch TĐKT từ thuật ngữ tiếng Anh là Group với nghĩa tổ hợp doanh nghiệp, trong đó gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay có tham gia. Mỗi công ty con, tự bản thân nó có thể kiểm soát công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác. Định nghĩa này mới chỉ nêu được một loại hình đặc biệt của TĐKT. Trên thực tế, ở các nước khác nhau, TĐKT cũng được gọi bằng các tên khác nhau.
ở Anh, Đức và Pháp, Mỹ TĐKT được gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group, người ấn Độ gọi TĐKT là Business houses, ở Hàn Quốc TĐKT là Chaelbols, ở Nhật Bản TĐKT được gọi là Keiretsu, Trung Quốc dùng thuật ngữ Tập đoàn doanh nghiệp. Sở dĩ có nhiều cách hiểu và tên gọi khác nhau như thế là do tính đa dạng và khó định hình của TĐKT. Trong đời sống hiện thực, người ta khó xác định được giới hạn thị trường và tiềm lực kinh tế thực sự của một tập đoàn, mặc dù nó hiển hiện như một lực lượng kinh tế có sức chi phối thị trường, chi phối nhiều nền kinh tế. Có tình trạng phổ biến trên thế giới là TĐKT không đăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ký kinh doanh dưới hình thức một doanh nghiệp thống nhất, do đó, dưới giác độ hệ thống, nhiều TĐKT không có tư cách pháp nhân.
ở hầu hết các nước, về mặt pháp lý, trong quan hệ với các đối tác khác, mỗi doanh nghiệp thành viên của tập đoàn tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các nghĩa vụ tài chính của mình. Nhưng về mặt quản lý và lợi ích kinh tế, các doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào nhau về nhiều phương diện như doanh nghiệp này đầu tư vốn vào doanh nghiệp kia, các doanh nghiệp chịu sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác với nhau để cùng tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, hoặc cùng cộng đồng trách nhiệm, phụ thuộc nhau về thương hiệu, thậm chí phụ thuộc nhau về các cam kết ràng buộc theo kiểu hợp đồng. Do phụ thuộc lẫn nhau nên các doanh nghiệp trong TĐKT phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau, trong đó thường có một doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm. Đó thường là doanh nghiệp có thế lực và có ảnh hưởng nhất.
Phương thức kiểm soát cũng vô cùng đa dạng, có thể chỉ là sự phối hợp giá, có thể là sự liên kết để độc chiếm thị trường, nhưng cũng có thể là sự liên kết sâu theo dây chuyền công nghệ hoặc chi tiết sản phẩm. Các doanh nghiệp có thể cùng quốc tịch, có thể khác quốc tịch. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của bất cứ doanh nghiệp nào tham gia liên kết trong TĐKT cũng là lợi nhuận của khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư. Do đó, trong TĐKT bao hàm cả nhu cầu hợp tác, cả nhu cầu thoát ly.
Chỉ khi nào tất cả các doanh nghiệp tham gia liên kết đều có lợi hơn khi không tham gia liên kết, cũng như chỉ khi nào sự kiểm soát của trung tâm đủ mạnh thì TĐKT mới tồn tại ổn định và vững chắc. Với cách hiểu TĐKT như thế, chúng tôi cho rằng, TĐKT là một nhóm doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập nhưng có mối liên kết chặt chẽ với nhau về vốn, công nghệ, thị trường nhằm mục tiêu tăng sức cạnh tranh, giảm chi phí và tối đa hoá lợi nhuận chung. Theo cách hiểu của chúng tôi, TĐKT không phải một pháp nhân, nhưng là một thực lực kinh tế có tổ chức vì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nó có ưu thế về quy mô sản phẩm, về tiềm lực công nghệ, vốn, về thị trường. Các TĐKT có khả năng tự bảo tồn sự liên kết khá lớn.
Ngoài ra, để đảm bảo sự không ly tâm của các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm có xu hướng nắm giữ phần vốn chi phối của doanh nghiệp thành viên. Chính vì thế, TĐKT có mô hình phổ biến là hình tháp tham dự, trong đó doanh nghiệp trung tâm đứng ở đỉnh hình tháp có vai trò là công ty mẹ giữ phần vốn chi phối ở công ty con, các công ty con sẽ giữ phần vốn chi phối ở công ty cháu. Bằng cách đó, TĐKT mở rộng phần đáy của mình phù hợp với xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh và đa dạng hoá ngành nghề. Các hình thức biểu hiện chủ yếu của Tập đoàn kinh tế Ngày nay TĐKT xuất hiện trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau.
Căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác nhau, có thể xếp các TĐKT vào một trong các loại sau đây: Căn cứ vào mô hình tổ chức và mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thuộc TĐKT, người ta phân chúng thành ba loại: - TĐKT liên kết cứng: Trong các TĐKT loại này, các doanh nghiệp thành viên liên kết với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại. Sự kiểm soát của doanh nghiệp trung tâm được thực hiện qua vai trò cổ đông chi phối và mô hình tổ chức phổ biến của các doanh nghiệp thành viên là công ty cổ phần - TĐKT liên kết mềm: Các doanh nghiệp trong loại TĐKT này chủ yếu liên kết với nhau thông qua hiệp ước hoặc hợp đồng kinh tế về các vấn đề quy mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu, định giá thị trường. Tập đoàn này có hình thành ban quản trị để điều hành hoạt động chung của tập đoàn, nhưng các doanh nghiệp thành viên có mức độ độc lập cao trong các quyết định tài chính, sản xuất và thương mại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - TĐKT liên kết về tài chính: Đặc trưng của TĐKT loại này là các doanh nghiệp thành viên chủ yếu có mối quan hệ về tài chính với nhau thông qua ký kết các hiệp định về tài chính, hình thành công ty tài chính (Holding Company) thực thi vai trò của công ty mẹ.
Loại TĐKT này thường kinh doanh đa dạng và các doanh nghiệp thành viên có quyền tự chủ cao. Nếu xét theo phạm vi liên kết, có các loại TĐKT sau: - Cartel: là nhóm các doanh nghiệp cùng ngành liên kết với nhau theo nguyên tắc thỏa thuận giá. Đây là liên kết ở mức thấp nhất. Trong TĐKT không có cơ quan điều phối chung.
Các doanh nghiệp phối hợp với nhau theo nội dung hiệp ước đã ký kết. Ngày nay có rất ít các TĐKT loại này vì liên kết thoả thuận giá tất yếu dẫn đến độc quyền của TĐKT nên nhiều Chính phủ ngăn cấm. - Syndicate: Là hình thức liên kết phát triển cao hơn từ hình thức cartel. Trong TĐKT loại này thường xuất hiện một ban quản trị điều phối các doanh nghiệp thành viên thực hiện cam kết chung.
Thậm chí, nhiều syndicate còn buộc các doanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ sản phẩm thông qua văn phòng thương mại của tập đoàn. Vì thế, các doanh nghiệp thành viên mất quyền độc lập về thương mại. - Trust: đặc trưng của TĐKT loại này là hoạt động sản xuất và thương mại của các doanh nghiệp thành viên do một ban quản trị điều hành chung. Các doanh nghiệp thành viên trở thành cổ đông của TĐKT.
Các tập đoàn kiểu này thường xuất hiện trong công nghiệp với mục đích độc chiếm nguồn nguyên liệu và công nghệ. - Consortium: là các TĐKT trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Mô hình tổ chức chung của cosortium là các mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên do một ngân hàng lớn đảm nhận thông qua các hình thức đầu tư vào sản xuất và chứng khoán để chi phối doanh nghiệp khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Concern: là TĐKT được tổ chức theo mô hình CTM-CTC, trong đó vai trò điều hành chung thuộc về CTM.
CTC có thể hoạt động trong rất nhiều ngành nghề khác nhau và có quyền độc lập trong kinh doanh rất cao. CTM chịu trách nhiệm điều phối các CTC theo mục tiêu và lợi ích chung của tập đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư.