BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ‘TRUONG ĐẠI HỌC SU PHAM TP.HCM KHOA SINH VAN DỤNG DAY HOG 6IẢI QUYẾT VAN DE DE 6IẢNG DAY GAG QUY LUẬT DI TRUYEN TRONG 0HƯƠNG TRINH SINH HOG LỚP II — 0ẢI GAGH GIAO DUG LUAN VAN TOT NGHIEP NGANH: SINH HOC CHUYEN NGANH: PPGD SINH HOC Người hướng dẫn khoe bọc: NGUYEN THỊ VAN THÀNH PHO HỒ CHÍ MINH - NĂM 2003 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP — GVHD: NGUYEN THỊ VÂN LỜI CÁM ƠN cm xin chin thank edm on: 03 AGUYER FHA CAA , giảng olin bộ man (Phutong Dhip Qiảng Dey Sink Hoe, Khoa Sink - Triting DUSP Tp. HOM, đã tin tink hướng din em hodn thank luậm odn nity. 03 LE FHI MIR, giảng vitn Khoa Sink, giáo ciêm trường Trung Woe Thiye Hank -DASD Tp. HOM đã tậm tink gitip đỡ em trong quá trink thie nghigm dé tai nay.
ĐA FRAH FHP DWC, giảng vidn bộ min Dhutong (Dhip Qiảng Day Sink Wee, Khoa Sink — Cường DHSDP Tp. HOM, đã góp ý cà chi bảo em trong quá trink thực kiệm đề tài nay. BAA CHA AAFEM KHOA SIKH, 04 các Thầy ĐA trong Khoa Sink -Friting DUSD đã tận tink day đỗ oà giúp đỡ ching em trong quá trink học tập od trong quá trink lam đề tài. -đậnp thể lég Sink KU, lớp Sink FID da giún để tài trong quá trink (luc hiện dé tài.
Sinh Vien Pham Y Aguyin Thy LUÂN VĂN TỐT NGHIỆP ss GVHD: NGUYEN THỊ VÂN BANG CÁC CHỮ VIET TAT DHGQVD Dạy học giải quyết vấn để * DC + Đối chứng * TN Thực nghiệm *% GV Giáo viên ©® HS “®* Học sinh LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ss GVHD: NGUYEN THỊ VÂN MỤC LỤC PHANI : Lý do chọn để tài. + 01 PHẦN II : Tổng quan về cơ sở lý luận và tình hình vận dụng DHGQVĐ trong nhà trường PTTH.---- 05 PHAN III : Mục tiêu của để tài. server 12 PHAN IV : Phương pháp nghiên cứu để tài. 13 PHAN V : Vấn để nghiên cứu và phạm vi giới hạn của để tài .20 PHAN VI : Nhận xét ~ Kết luận.--eeore23 BHIẨN VI nee: 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
36 PHU LUC 1: Giáo án.-68 PHU LUC 3: Phiếu học tập.zrc69 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nền kinh tế của nước ta sau khi kết thúc chiến tranh, đã trải qua biết bao nhiêu năm khủng hoảng, nay đang được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Để thực hiện công cuộc đổi mới này thì giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng, là nơi cung cấp nguồn nhân lực trẻ cho XH, tạo cho XH những con người có trình độ văn hóa cao, có khả năng tư duy, có khả năng suy nghĩ và hành động hợp lý, có khả năng thích ứng nhạy bén với môi trường luôn thay đổi. Do vậy, yêu cầu cần đặt ra là phải đổi mới hệ thống giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo thế hệ trẻ. Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt này của giáo dục, cho nên Đảng và Nhà nước ta đều rất quan tâm đầu tư để nâng cao chất lượng dạy và học: "Giáo dục là quốc sách hàng đâu" {13,7]116].
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV Khóa VII ( 2/1993 ) đã khẳng định: "Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Ấp dụng những phương pháp giáo dục hiện dai để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn để "{ 13,7]. Qua đó chúng ta thấy những phẩm chất trí tuệ của con người phát triển toàn diện mà nhà trường chúng ta phải đào tạo, chủ yếu là những phẩm chất của sự suy nghĩ, của tư duy, óc suy nghĩ độc lập sáng tạo và trí thông minh. Quán triệt những tinh thần trên, đồng thời để thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo cho XH một lớp người vừa “hồng” vừa “chuyên” như : M Y NGUYEN THY -Ä- LUẬN GD: VĂN TỐT NGHIỆP NGUYEN THI VÂN lời Bác Hồ đã căn đặn.
Muốn vậy ngành giáo dục phải xác định đổi mới nội dung và phương pháp giảng day các bộ môn nói chung và bộ môn Sinh học nói riêng là yêu cầu cấp bách hiện nay. Và muốn đổi mới phương pháp dạy học thì diéu đầu tiên là vận dụng và phổ biến kiểu DHGQVD để đạt đến trình độ sáng tạo của sự lĩnh hội, tức là có khả năng vận dung sự hiểu biết vào những tinh huống mới chưa quen biết. Tuy nhiên trong thực tiễn dạy và học hiện nay, đặc biệt là trong dạy hoc Sinh học, GV vẫn còn dùng các phương pháp truyền thống để truyền đạt kiến thức cho HS là phương pháp thông báo - tái hiện và phương pháp làm mẫu - bất chước. Các phương pháp truyền thống chỉ có thể đưa HS đến trình độ tái hiện và vận dụng thành thạo vào những tình huống quen biết mà thôi.
Còn những tình huống mới lạ thì các em sẽ trở nên hing túng. Phương pháp day học truyền thống này theo kiểu chuyển giao một chiều, đơn tuyến từ thầy đến trò. Do vậy đào tạo ra phần lớn những con người thụ động, kém tháo vat, thiếu sáng tạo, khó thích ứng. Nếu có thích ứng được cũng phải trả giá rất đất về sự sàng lọc, sự lãng phí thời gian và cả cơ hội.
Dạy học như vậy, HS chỉ làm được những gì mà các em đã được học thì chẳng khác gì một cái máy, cho dù cái máy đó có cao cấp như một “robot” hiện đại nhất thì nó cũng chỉ hoạt động theo một chương trình đã được cài đặt sin. Vì vậy, các phương pháp day học này chưa đạt được hiệu quả cao và chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của XH đốt với ngành giáo dục. SVTH: PHAM Y NGUYÊN THY -2- LUẬN VĂN TOT NGHIỆP GVHD: NGUYEN THỊ VÂN Nhận thức được tim quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đặc biệt phương pháp dạy học Sinh học nói riêng, chuyên để “DHGQVD trong bộ môn Sinh học” đã được đưa vào bồi đưỡng thường xuyên cho các thầy cô giáo đang giảng dạy ở trường PTTH vào chu kỳ 1997 - 2000 với mong muốn giúp các thẦy cô giáo có cách nhìn, cách thay đổi phương pháp day học của mình. Và chuyên để này đã được các thầy cô giáo PTTH chấp nhận và vận dung.
Trong hơn hai năm vận dụng DHGQVD vào giảng day môn Sinh học, agoài những trở ngại đã nêu trong chuyên dé thì còn một lý do quan trọng nữa đã cản trở các thấy cô giáo vận dụng DHGQVD đó là việc thiết kế giáo án theo phương pháp DHGQVD đã gây khó khăn lớn trước khi thầy cô vận dụng vào quá trình giảng đạy Sinh học của mình. Mặt khác, các kiến thức quy luật di truyền cung cấp cho HS là các quy luật di truyền cơ bản của hiện tượng đi truyền. Nó có vị trí hết sức quan trọng và chiếm một tỉ lệ khá lớn trong chương trình Sinh hoc 11. Đây là thành phần kiến thức khó đối với HS trong quá trình nhận thức vì mức độ trừu tượng cũng như sự phức tap của bản thân các quy luật di truyền.
Song đây cũng là kiến thức sinh học có thể xác lập bằng bài toán nhận thức để HS giải quyết từng phan kiến thức giúp các em có thể tự mình xác lập kiến thức, và bằng phương pháp DHGQVD không những giúp các em nấm kiến thức một cách sâu sắc mà quan trong hơn cả là rèn luyện được cách lập luận cho các em, từ đó bồi dưỡng cho HS năng lực phát hiện vấn dé, đặt ra và giải quyết các vấn để học tập để tự tìm ra tri thức cho mình. Và trong việc tập dượt từ thấp đến cao của AN V, T DHGQVD sẽ góp phần hình thành nhân cách của HS đạt được yêu cầu đòi hỏi của XH.9] Từ sự phân tích trên nên tôi chọn để tài: "Van dụng DHGQVD để giảng dạy các quy luật đi truyền trong chương trình Sinh học lớp 11 - cải cách giáo dục” để đáp ứng nhu cầu đổi mới vé phương pháp giảng dạy đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học các quy luật đi truyền, góp phần thúc đẩy việc vận dụng DHGQVD trong giảng day Sinh học nói chung và giảng dạy các quy luật đi truyền nói riêng. PHẦN H: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TINH HÌNH VẬN DỤNG “DHGQVD” TRONG NHÀ TRƯỜNG PTTH U CƠ SỞ LÝ L “ ms DHGQVD không phải là một phương pháp day học cụ thé đơn nhất mà nó là một tổ hợp phương pháp day học phức tap tức là một tập hợp nhiều phương pháp day học liên kết với nhau chặt chẽ và tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp xây dựng bài toán nhận thức để tạo tình huống có vấn để là thành tố chính, giữ vai trò trung tâm chỉ đạo, kết hợp với các phương pháp dạy học khác như: thuyết trình, thí nghiệm, đàm thoại, trực quan. thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đạt mục đích sư phạm là tổ chức hoạt động nhận thức sáng tạo của HS để các em vừa tiếp thu được kiến thức vừa hình thành được kinh nghiệm, kỹ năng trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu.
[13,11] DHGOQVD dia trên ba cơ sở khoa học: cơ sở triết học, cơ sở tâm lý học và cơ sở giáo dục. 1/Cơ triếtsở học: Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển. Một vấn để được khơi gợi ra cho HS học tập chính là một mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với kiến thức và kinh nghiệm có sẩn. SVTH: PHAM Y NGUYÊN THY set LUẬN CGD: VĂN TỐT NGHIỆP NGUYEN THI VAN Tinh huống này phản ánh một cách logic và biện chứng quan hệ bên trong giữa kiến thức cũ, kỹ năng cũ và kinh nghiệm cũ với yêu cầu giải thích sự kiện mới hoặc đổi mới tình thế.
2/Cơ sở tâm lý hoc: Theo các nhà tâm lý học, con người chỉ bất đầu thực sự tư đuy tích cực (tức nảy sinh nhu cẩu tư duy) khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khấc phục, một tình huống gợi vấn để. "Tu duy sáng tạo luôn luôn bất đầu bằng một tình huống gợi vấn dé”. 3/Cơ sở giáo duc: DHGQVD phù hợp với nguyên tắc tính tự giác và tính tích cực vì nó khêu gợi được hành động học tập mà chủ thể được hướng tới, gợi động cơ trong quá trình phát triển và giải quyết vấn để. DHGQVD cũng biểu hiện sự thống nhất giữa giáo dưỡng và giáo dục.
Tác dụng của kiểu DHGQVD là ð chỗ nó day cho HS cách khám phá tức rèn luyện cho HS cách thức phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn để một cách khoa học.