Tổng quan luận án

Công trình "Đổi mới phương thức đào tạo biên tập viên báo chí ở Việt Nam hiện nay" của nghiên cứu sinh Vũ Thuỳ Dương là luận án tiến sĩ thuộc ngành Báo chí học (mã số: 9 32 01 01), được thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Thoa và PGS.TS. Hoàng Anh, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, yêu cầu đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo (PTĐT) theo hệ thống tín chỉ là đòi hỏi khách quan. Cùng với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, Internet và các thiết bị di động thông minh, môi trường truyền thông số đã tạo ra sự va chạm giữa báo chí truyền thống và truyền thông xã hội, làm thay đổi nghiệp vụ báo chí. Dù phương tiện truyền thông mới phát triển, bản chất báo chí vẫn đòi hỏi sự gia công ở khâu biên tập và xuất bản. Biên tập viên (BTV) giữ vai trò "gác cổng" cho tòa soạn; tuy nhiên, công việc này chịu nhiều áp lực, thu nhập chưa cao, tiêu chuẩn tuyển chọn khắt khe, trong khi các cơ sở đào tạo chưa chú trọng đào tạo chức danh BTV mà chủ yếu tập trung đào tạo phóng viên (PV). Thực trạng này dẫn đến sự thiếu hụt chất lượng nhân lực và làm phát sinh nhiều sai sót về nội dung, văn bản, ngôn từ trên các ấn phẩm, đặc biệt là báo điện tử.

Về mặt thực tiễn, số liệu thống kê của Cục Báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông tính đến năm 2017 cho thấy quy mô hệ thống báo chí tại Việt Nam gồm:

  • 859 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương) và 660 tạp chí (523 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương).
  • 135 báo, tạp chí điện tử (tăng 30 cơ quan so với năm 2015), gồm 112 báo, tạp chí điện tử thuộc cơ quan báo in và 23 báo, tạp chí điện tử độc lập.
  • 258 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí được cấp phép.
  • 67 đài phát thanh, truyền hình (2 đài quốc gia là Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam; 1 Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC; 64 đài địa phương).

Sự gia tăng số lượng cơ quan báo chí kéo theo nhu cầu tuyển dụng PV và BTV từ các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo BTV tại các trường đại học vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: phương pháp giảng dạy tích cực chưa được áp dụng rộng rãi; đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; thiếu học liệu cho đào tạo tín chỉ; trang thiết bị thực hành chưa đáp ứng; phương thức kiểm tra - đánh giá chủ yếu dừng lại ở mức độ kiểm tra kiến thức, chưa đo lường được năng lực vận dụng sáng tạo. Từ đó, khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt về PTĐT chức danh BTV báo chí trong bối cảnh truyền thông hội tụ.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận án là trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết về PTĐT BTV báo chí, tiến hành đánh giá thực trạng PTĐT BTV báo chí ở Việt Nam, tìm hiểu yêu cầu thực tiễn của cơ quan báo chí đối với chức danh này, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới PTĐT BTV báo chí dựa trên các yếu tố bảo đảm chất lượng trong quy trình đào tạo của nhà trường.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến PTĐT BTV báo chí.
  3. Khảo sát thực trạng PTĐT BTV báo chí tại các cơ sở đào tạo báo chí ở Việt Nam, rút ra những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra.
  4. Thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá của BTV báo chí, lãnh đạo cơ quan báo chí, sinh viên (SV) báo chí và giảng viên (GV) giảng dạy báo chí về chất lượng, hiệu quả của PTĐT BTV báo chí, cũng như các yêu cầu đặt ra đối với BTV trong bối cảnh hiện nay.
  5. Đề xuất giải pháp đổi mới PTĐT BTV báo chí ở Việt Nam dựa trên các yếu tố đảm bảo chất lượng trong quy trình đào tạo của nhà trường.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết thứ nhất: Hoạt động đào tạo BTV báo chí ở nước ta thời gian qua đã đạt những kết quả nhất định nhưng sinh viên tốt nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng biên tập; nội dung chương trình đào tạo (CTĐT) còn ít hàm lượng tri thức biên tập, PTĐT còn mang tính truyền thống, cơ sở đào tạo chủ yếu chú trọng đào tạo PV. Do đó, cần nhanh chóng xây dựng giải pháp đổi mới PTĐT BTV báo chí thích ứng với xu hướng hội tụ truyền thông.
  • Giả thuyết thứ hai: Xu thế hội tụ truyền thông và công nghệ số đòi hỏi BTV báo chí hiện nay phải tác nghiệp thành thạo trong tòa soạn hội tụ, trở thành BTV đa phương tiện. Mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra (CĐR) của BTV báo chí vì thế phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nghề nghiệp, xác định cụ thể các phẩm chất, tri thức và kỹ năng chuyên nghiệp.
  • Giả thuyết thứ ba: Nguyên tắc cơ bản của việc đổi mới PTĐT BTV báo chí là tạo nên một hoạt động đào tạo mềm dẻo, linh hoạt để thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn. Trong đó, CTĐT và phương pháp đào tạo là yếu tố hạt nhân, đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố bảo đảm chất lượng trong quy trình đào tạo của nhà trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương thức đào tạo BTV báo chí ở các cơ sở đào tạo báo chí.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu PTĐT BTV báo chí lồng ghép theo chương trình đào tạo nhà báo nói chung ở trình độ đại học, hình thức đào tạo chính quy tập trung. Phạm vi chuyên môn gồm các chuyên ngành: báo in, báo ảnh, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử theo cả hai phương thức đào tạo niên chế và tín chỉ trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017. Các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn hoặc dài hạn không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan 5 nhóm công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài:

1. Các nghiên cứu về lý thuyết đào tạo và nguyên lý dạy học đại học

  • Lưu Xuân Mới (2000), trong Lý luận dạy học đại học, hệ thống hóa lý thuyết dạy học cộng tác (Collaborative) với 6 đặc điểm cơ bản: cá thể hóa cao độ, khách quan hóa tối đa, diễn giảng trở thành nguồn động cơ nhận thức, giáo trình chia thành mô-đun, mục tiêu học tập rõ ràng có thể đo lường được, và kiểm tra thông qua hệ thống người hướng dẫn.
  • Lương Khắc Hiếu (2013), trong Giáo trình Lý thuyết truyền thông, phân tích lý thuyết học tập xã hội với cơ chế học qua quan sát, bắt chước và thử nghiệm hành vi, chỉ ra tầm quan trọng của việc tự học và đào tạo từ xa.
  • Trần Hữu Hoan (2011), trong Phát triển chương trình giáo dục, phân tích 4 triết lý giáo dục: duy tâm (Idealism), hiện thực (Realism), thực dụng (Pragmatism) và hiện sinh (Existentialism). Tác giả luận án vận dụng triết lý thực dụng để xác định nhu cầu xã hội là điểm khởi đầu xây dựng chuẩn đầu ra và CTĐT.
  • Dewey J. (thông qua phân tích của Trần Thanh Ái, 2010), với tác phẩm Dân chủ và Giáo dục, chỉ ra 3 nguyên lý của đào tạo tín chỉ: nguyên lý dân chủ hóa, đại chúng hóa giáo dục đại học và nguyên lý dạy học tích cực.

2. Các công trình nghiên cứu về lý luận báo chí và lao động biên tập

  • G. Lazutina (2003, Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo), E.P. Prôkhôrốp (2004, Cơ sở lý luận của báo chí), và Tạ Ngọc Tấn (2007, Cơ sở lý luận báo chí) luận giải bản chất thông tin đại chúng, nguyên tắc sáng tạo và mối quan hệ giữa nhà báo với công chúng.
  • Nguyễn Văn Dững (2012, Cơ sở lý luận báo chí), Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Thị Hằng Thu (2012, Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương), Lê Thị Nhã (2016, Lao động nhà báo) khẳng định lao động nhà báo bao gồm cả công việc của PV và BTV. Biên tập là một khâu trong chu trình sản xuất sản phẩm báo chí, do đó BTV là một chức danh thuộc nội hàm của nhà báo.

3. Các công trình nghiên cứu về đào tạo báo chí quốc tế và trong nước

  • Nghiên cứu quốc tế: David Weaver (1991, 2007) khảo sát xã hội học về nhà báo Mỹ; Colin Sparks (1998) nghiên cứu về sự chuyển dịch trong đào tạo báo chí truyền hình; Bob Franklin (2006) phân tích báo chí địa phương tại Anh; Georgios Terzis (2009, European journalism education) so sánh tiêu chí đào tạo tại châu Âu và đề xuất tăng cường thực hành nghề; Jonathan Gray và cộng sự (2012) nghiên cứu về báo chí dữ liệu; Wendy Bacon (2008) phân tích sự thay đổi trong giảng dạy báo chí tại Đại học Công nghệ Sydney (UTS) trước áp lực sụt giảm nguồn lực biên tập; Trần Dật Nam (2008) phân tích 3 giai đoạn đào tạo báo chí tại Trung Quốc; Vũ Tuấn Anh và Mạch Lê Thu (2016) phân tích mô hình đào tạo báo chí 4 cấp bậc tại Úc; Trần Tiến (2016) đề xuất quan điểm "phi tập trung hóa" và tích hợp liên ngành theo mô hình Hoa Kỳ và Hàn Quốc; Nguyễn Thúy Quỳnh (2016) phân tích mô hình đào tạo cử nhân báo chí tại Nga; Vũ Thanh Vân (2016) phân tích mô hình đào tạo và bảo đảm chất lượng của Đại học Middlesex.
  • Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Đức Hạnh (2005) khảo sát năng lực việc làm của cử nhân Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (2007), Hoàng Đình Cúc (2010) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo báo chí; Dương Xuân Ngọc (2008) đề xuất định hướng đào tạo gắn với toà soạn và xã hội hóa; Hoàng Quốc Bảo (2010) nghiên cứu quản lý hoạt động báo chí gắn với đào tạo; Đặng Thị Thu Hương (2014) chỉ ra việc đổi mới chương trình đào tạo theo mô-đun tín chỉ tại Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội; Nguyễn Thế Kỷ (2012, 2013) nghiên cứu tác động của chính sách quản lý đối với phát triển báo chí; Nguyễn Thành Lợi (2016) nghiên cứu đào tạo báo chí trong môi trường hội tụ; Hoàng Anh (2016) khảo sát chuẩn đầu ra báo chí, dẫn chứng tiêu chuẩn viết và biên tập của Đại học Bang New York và Đại học Boston.

4. Các nghiên cứu về phương thức đào tạo báo chí

  • Theo quá trình đào tạo: Đậu Ngọc Đản (2008) đề xuất phương thức đột phá là gắn đào tạo chính khóa với đi thực tế; Đức Dũng (2010) chia thành 3 PTĐT: truyền thống (chú trọng lý thuyết), truyền nghề (chú trọng kỹ năng thực hành), và kết hợp lý thuyết với thực hành; Clas Thor (2010), Lê Hồng Quang (2007) nhấn mạnh phương pháp truyền nghề theo kinh nghiệm của Thụy Điển (FOJO) và Trường Đại học Lille (Pháp); Nguyễn Thị Trường Giang (2016) phân chia thành 2 PTĐT: đào tạo tập trung dài hạn theo hướng kết hợp lý thuyết - thực hành và bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn chú trọng kỹ năng.
  • Theo tổ chức quá trình đào tạo: Cary J. Trexler (2010), Trường ĐH Penn State (2011), Jinsong Zhang và cộng sự (2011) phân tích cơ chế học chế tín chỉ tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc; Lâm Quang Thiệp (2006), Trần Thanh Ái (2010), Lê Văn Hảo (2011) so sánh niên chế và tín chỉ tại Việt Nam; Nguyễn Thị Thu Thủy (2014) xây dựng đề án lộ trình chuyển đổi 3 giai đoạn sang học chế tín chỉ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền từ khóa 34 (2014-2018).
  • Các yếu tố tác động đến PTĐT: Vũ Quang Hào (2004) nêu 4 đặc thù dạy truyền nghề tại FOJO (Thụy Điển); Tô Huy Rứa (2008) chỉ đạo 5 nhiệm vụ đổi mới đào tạo; Đinh Thị Thúy Hằng (2008) phân tích tác động của hội tụ truyền thông; Hakan Lindhoff (2008) đúc kết 8 bài học đào tạo báo chí Thụy Điển.

5. Các nghiên cứu về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ biên tập

  • Nghiên cứu quốc tế: Natalia Rodriguez hướng dẫn kỹ năng đọc văn bản khoa học (skim, re-read, interpret, summarize); tài liệu của Study.com nêu 5 yêu cầu đối với BTV khoa học; quy chuẩn thẩm định của The Polish Journal of Social Science; hướng dẫn đạo đức xuất bản của Hội đồng Biên tập Khoa học (CSE); tiêu chuẩn quốc tế của Sabine Kleinert và Elizabeth Wager (2011) về trách nhiệm độc lập, bảo mật và thẩm định của BTV.
  • Nghiên cứu trong nước: Vôtxkobôinhicốp và Iyriev (do Nguyễn Văn Dững và Hoàng Anh dịch, 1998, Nhà báo, bí quyết kỹ năng - nghề nghiệp) phân tích chi tiết tiêu chuẩn của BTV phương Tây: quan điểm kiên định, sự trung thực, phán đoán khách quan và kỹ năng xử lý tít, rút gọn văn bản dưới áp lực thời gian.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước đã nghiên cứu về lý luận báo chí, kỹ năng của phóng viên, hoặc phương thức tổ chức đào tạo đại học nói chung (niên chế, tín chỉ), nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích toàn diện PTĐT riêng cho chức danh biên tập viên báo chí. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý thuyết, khảo sát thực nghiệm tại các cơ sở đào tạo báo chí lớn nhất Việt Nam và đề xuất chương trình đào tạo BTV thích ứng với môi trường tòa soạn hội tụ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Nền tảng tư tưởng: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về báo chí và giáo dục.
  • Lý thuyết chuyên ngành: Tác giả vận dụng lý thuyết báo chí học hiện đại (vai trò chủ thể, quy trình sản xuất tác phẩm báo chí, chức năng "gác cổng" của BTV), lý luận dạy học đại học (thuyết dạy học cộng tác của Lưu Xuân Mới, thuyết học tập xã hội của Lương Khắc Hiếu, triết lý giáo dục thực dụng của Dewey J. và Trần Hữu Hoan), các nguyên lý của học chế tín chỉ và lý thuyết về hội tụ truyền thông.
  • Khái niệm công cụ: Luận án làm rõ các khái niệm về BTV báo chí (nhà báo thực hiện chức năng tổ chức, thẩm định, xử lý, gia công văn bản/tác phẩm báo chí và kiểm duyệt trước khi xuất bản), phương thức đào tạo (cách thức, quy trình phối hợp giữa hoạt động dạy và học, bao gồm cả mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, điều kiện vật chất và cách thức đánh giá).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án thuộc thể loại nghiên cứu ứng dụng, kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân loại và hệ thống hóa: Nghiên cứu chương trình khung đào tạo cử nhân báo chí tại các cơ sở đào tạo giai đoạn 2013-2017; các văn bản quản lý đào tạo, báo cáo tự đánh giá chất lượng; tài liệu giáo trình và các công trình khoa học trong và ngoài nước.
  2. Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Tiến hành phỏng vấn sâu định tính trên 3 nhóm khách thể:
    • Nhóm 1 (Lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí): Đại diện lãnh đạo tại Báo Đại biểu Nhân dân, Báo Xây dựng, Báo Thanh tra, Báo Nhà báo và Công luận, Báo Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Công thương, Báo Nhân dân, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam. Tiêu chí chọn mẫu: là người trực tiếp sử dụng, quản lý nguồn nhân lực BTV được đào tạo từ các trường báo chí.
    • Nhóm 2 (Biên tập viên báo chí): Các BTV đang trực tiếp tác nghiệp tại Báo Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Công thương, Báo Nhân dân, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam. Tiêu chí chọn mẫu: BTV tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo báo chí.
    • Nhóm 3 (Giảng viên): Đại diện giảng viên cơ hữu trực tiếp giảng dạy các chuyên ngành Báo in, Báo phát thanh, Báo truyền hình, Báo mạng điện tử tại các cơ sở đào tạo báo chí.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Khảo sát định lượng đối tượng sinh viên báo chí tại 3 cơ sở đào tạo báo chí lớn nhất cả nước, quy mô 650 phiếu:
Cơ sở đào tạo Khu vực Số lượng phiếu khảo sát
Học viện Báo chí và Tuyên truyền (HVBC&TT) Miền Bắc 250
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (ĐH KHXH&NV HN) Miền Bắc 200
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM (ĐH KHXH&NV TPHCM) Miền Nam 200
Tổng cộng mẫu khảo sát Toàn quốc 650
  1. Phương pháp nghiên cứu trường hợp và phương pháp so sánh: Nghiên cứu điển hình và so sánh đối chiếu quy trình, cấu trúc chương trình, phương pháp giảng dạy giữa 3 cơ sở đào tạo nói trên.
  2. Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê: Xử lý số liệu khảo sát ankét để lượng hóa các đánh giá của người học và người dạy.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận của đổi mới phương thức đào tạo biên tập viên báo chí

Chương 1 tập trung vào 3 nội dung cơ bản: một số khái niệm cơ bản; cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về đào tạo và PTĐT BTV báo chí; các yếu tố tác động và sự cần thiết đổi mới PTĐT BTV báo chí hiện nay.

  • Làm rõ các khái niệm: Luận án khẳng định BTV là một mắt xích trọng yếu trong chu trình sáng tạo báo chí. BTV không chỉ đơn thuần sửa lỗi chính tả hay câu chữ mà giữ quyền năng thẩm định, định hướng thông tin, bảo đảm tính xác thực, tính định hướng chính trị, pháp lý và thẩm mỹ của tác phẩm báo chí. PTĐT BTV báo chí được tiếp cận dưới hai góc độ: góc độ quá trình đào tạo (sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề nghiệp) và góc độ tổ chức đào tạo (chuyển đổi từ niên chế sang tín chỉ).
  • Cơ sở lý luận về PTĐT: Luận án áp dụng các nguyên lý dạy học hiện đại: lấy người học làm trung tâm, giáo dục tích cực, dạy học cộng tác. Đào tạo BTV đòi hỏi sự gắn kết hữu cơ giữa tri thức nền tảng (khoa học xã hội - nhân văn, chính trị, pháp luật) và kỹ năng tác nghiệp thực tế (kỹ năng phát hiện đề tài, xử lý văn bản, thẩm định nguồn tin, đồ họa, kỹ thuật âm thanh, hình ảnh trong môi trường số).
  • Các yếu tố tác động và sự cần thiết đổi mới: Các yếu tố tác động bao gồm sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin; sự hình thành mô hình tòa soạn hội tụ đòi hỏi BTV đa phương tiện; áp lực cạnh tranh từ mạng xã hội; cơ chế chính sách quản lý báo chí của Nhà nước; và những đòi hỏi khắt khe từ thị trường lao động. Luận án khẳng định tính cấp thiết phải chuyển đổi phương thức đào tạo từ truyền thụ lý thuyết thụ động sang đào tạo phát triển năng lực thực tiễn, linh hoạt theo hệ thống tín chỉ.

Chương 2: Thực trạng phương thức đào tạo biên tập viên báo chí ở các cơ sở đào tạo báo chí hiện nay

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về công tác đào tạo báo chí tại Việt Nam thông qua khảo sát thực chứng tại 3 cơ sở: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội và Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM.

  • Khái quát và khảo sát các yếu tố quy trình đào tạo:
    • Mục tiêu và Chuẩn đầu ra (CĐR): Số liệu tại Bảng 2.1 (Điểm số trung bình đánh giá CĐR của CTĐT báo chí) và Biểu đồ 2.2 cho thấy CĐR của các trường hiện nay chủ yếu thiết kế cho đào tạo người làm báo nói chung, nặng về chức danh phóng viên, thiếu các tiêu chí kỹ năng chuyên biệt cho chức danh biên tập viên.
    • Nội dung chương trình đào tạo: Bảng 2.2 (Đánh giá nội dung CTĐT của 3 trường) và các Biểu đồ 2.4 đến 2.9 phản ánh cơ cấu phân bổ khối lượng kiến thức:
      • Khối kiến thức đại cương chiếm tỷ lệ khoảng 1/3 tổng số tín chỉ/đơn vị học trình (ĐVHT) của chương trình đào tạo.
      • Khối kiến thức cơ sở ngành chiếm tỷ lệ khoảng 1/4 tổng số tín chỉ/ĐVHT.
      • Khối kiến thức chuyên ngành chiếm tỷ lệ khoảng 1/3 tổng số tín chỉ/ĐVHT. Hàm lượng các học phần trực tiếp giảng dạy về nghiệp vụ biên tập (như biên tập bản thảo báo in, biên tập âm thanh phát thanh, biên tập hình ảnh truyền hình, biên tập báo mạng điện tử, tổ chức trang mục) còn chiếm tỷ lệ rất thấp trong khối chuyên ngành.
    • Phương pháp giảng dạy và thực hành: Bảng 2.3 (Điểm số trung bình đánh giá sự phân chia thời lượng của mỗi phương pháp trong từng khối kiến thức) và Biểu đồ 2.15 chỉ ra phương pháp thuyết trình truyền thống vẫn chiếm ưu thế. Bảng 2.4 (Tỷ lệ các hình thức thực hành trong CTĐT BTV báo chí) cùng các Biểu đồ 2.16, 2.17 cho thấy các hình thức thực hành tại chỗ, mô phỏng quy trình xuất bản tòa soạn còn hạn chế; hoạt động kiến tập, thực tập tại cơ quan báo chí (Biểu đồ 2.18) còn mang tính hình thức, thời lượng ngắn, sinh viên ít có cơ hội được tham gia trực tiếp vào quy trình biên tập sản phẩm thực tế.
    • Đội ngũ giảng viên và mời chuyên gia: Biểu đồ 2.10, 2.11 và 2.12 phản ánh chất lượng giảng viên báo chí: đa số giảng viên cơ hữu có trình độ lý thuyết tốt nhưng thiếu kinh nghiệm cọ xát nghiệp vụ biên tập thực tế tại các tòa soạn; tỷ lệ mời các BTV giàu kinh nghiệm từ các cơ quan báo chí tham gia giảng dạy còn khiêm tốn.
    • Cơ sở vật chất, học liệu và thi đánh giá: Bảng 2.5 (Đánh giá về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo báo chí) và Bảng 2.6 (Đánh giá về chất lượng thư viện tại cơ sở đào tạo báo chí) ghi nhận sự thiếu thốn về trang thiết bị phòng studio, phòng dựng, phần mềm đồ họa, xử lý bản thảo tòa soạn tích hợp. Về kiểm tra đánh giá, các Biểu đồ 2.19, 2.20, 2.21 cho thấy hình thức thi viết truyền thống vẫn là chủ đạo ở cả khối cơ sở ngành và chuyên ngành, chưa đo lường được kỹ năng thực hành biên tập trực tiếp.

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp đổi mới phương thức đào tạo biên tập viên báo chí ở Việt Nam trong thời gian tới

Chương 3 chỉ ra các mâu thuẫn tồn tại và đưa ra hệ thống giải pháp:

  • Những vấn đề đặt ra:
    • Mâu thuẫn giữa nhu cầu xã hội về đội ngũ BTV đa phương tiện, thành thạo công nghệ số với quy trình đào tạo còn mang tính phân mảnh theo từng loại hình báo chí truyền thống.
    • Mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo thực hành với hạn chế về cơ sở vật chất, trường quay, hệ thống học liệu chuyên sâu về biên tập.
    • Đội ngũ giảng viên thiếu kinh nghiệm thực tế tại tòa soạn hội tụ; thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và cơ quan báo chí.
    • Đánh giá kết quả học tập còn nặng về ghi nhớ lý thuyết, chưa sát hạch toàn diện kỹ năng biên tập dưới áp lực thời gian và quy chuẩn đạo đức xuất bản.
  • Hệ thống nhóm giải pháp đề xuất:
    • Đổi mới mục tiêu, chuẩn đầu ra và thiết kế khung chương trình: Xây dựng chuẩn đầu ra riêng cho BTV báo chí; thiết kế lại CTĐT theo hướng linh hoạt, tăng cường tỷ trọng các học phần biên tập chuyên sâu (chiếm vị trí trọng tâm trong khối chuyên ngành); thiết kế chương trình mẫu đào tạo BTV báo chí.
    • Đổi mới phương pháp dạy học: Chuyển mạnh sang phương pháp truyền nghề, dạy học giải quyết vấn đề, mô hình "dùng báo chí dạy báo chí", áp dụng mô hình tòa soạn ảo/tòa soạn mô phỏng để sinh viên trực tiếp xử lý dữ liệu tin tức thô thành sản phẩm báo chí hoàn chỉnh.
    • Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên: Thực hiện luân chuyển giảng viên đi thực tế tại các cơ quan báo chí; chuẩn hóa giảng viên thực hành; tăng cường tỷ lệ mời các BTV, Tổng biên tập tham gia giảng dạy và hướng dẫn thực hành.
    • Tăng cường cơ sở vật chất và công tác kiểm tra, đánh giá: Đầu tư phòng thực hành tác nghiệp hội tụ, hệ thống phần mềm biên tập đa phương tiện; đổi mới hình thức thi hết môn sang chấm sản phẩm thực tế, đánh giá kỹ năng biên tập trực tiếp trên hệ thống.
    • Gắn kết giữa cơ sở đào tạo và cơ quan sử dụng lao động: Ký kết hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng, kéo dài thời gian thực tập nghề nghiệp của sinh viên tại các tòa soạn báo.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới của luận án

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới cụ thể:

  1. Tổng kết, đánh giá toàn diện: Luận án đã tổng kết, đánh giá thực trạng công tác đào tạo BTV báo chí nói chung và PTĐT BTV báo chí tại các cơ sở đào tạo ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới và chuyển đổi sang học chế tín chỉ.
  2. Kiến nghị mô hình đào tạo hiệu quả: Trên cơ sở phân tích các mô hình đào tạo báo chí hiện có, luận án đề xuất mô hình PTĐT hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển của báo chí truyền thông đa phương tiện và mô hình tòa soạn hội tụ.
  3. Đề xuất điều chỉnh cấu trúc chương trình: Luận án đề xuất giải pháp tăng cường khối kiến thức đào tạo chuyên sâu về biên tập trong khung chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học hiện nay, khắc phục tình trạng chỉ tập trung đào tạo kỹ năng phóng viên.
  4. Thiết kế chương trình đào tạo BTV báo chí tham khảo: Xuất phát từ các yêu cầu về phẩm chất, trình độ và kỹ năng tác nghiệp của BTV trong xu thế truyền thông hội tụ, tác giả đã thiết kế một khung chương trình đào tạo BTV báo chí hoàn chỉnh để các trường đại học tham khảo khi xây dựng và điều chỉnh chương trình.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án kiến nghị với các cơ quan quản lý (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) và các cơ sở đào tạo cần đổi mới đồng bộ các yếu tố bảo đảm chất lượng trong quy trình đào tạo: từ khâu tuyển sinh (chú trọng đánh giá năng khiếu báo chí, tư duy ngôn ngữ), điều chỉnh khung chương trình, đầu tư tòa soạn mô phỏng, đến việc đổi mới phương pháp đánh giá sinh viên dựa trên sản phẩm thực tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi 3 cơ sở đào tạo đại học công lập trọng điểm (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) và giới hạn ở bậc đại học hệ chính quy tập trung trong mốc thời gian từ 2013 đến 2017. Các chương trình đào tạo sau đại học, hệ vừa làm vừa học, văn bằng 2 và các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn của Hội Nhà báo không thuộc phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Từ phạm vi nghiên cứu của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát PTĐT BTV ở bậc sau đại học (thạc sĩ ứng dụng); nghiên cứu đào tạo kỹ năng biên tập dữ liệu số (data journalism), biên tập đa nền tảng cho mạng xã hội; và tác động của các công nghệ tự động hóa, trí tuệ nhân tạo đối với quy trình biên tập tin tức tại các tòa soạn báo chí hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong lĩnh vực báo chí học và quản lý giáo dục:

  • Đối với các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông: Cung cấp cơ sở lý luận, cứ liệu thực chứng và mẫu khung chương trình đào tạo BTV để các khoa, viện báo chí tham khảo trong việc rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra và đề cương chi tiết học phần.
  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh: Là nguồn tài liệu tổng quan phong phú về lý luận dạy học đại học, nguyên lý tín chỉ, kinh nghiệm đào tạo báo chí thế giới (Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Nga, Thụy Điển, Trung Quốc) và các phương pháp khảo sát xã hội học báo chí.
  • Đối với các cơ quan báo chí: Cung cấp tiêu chuẩn về phẩm chất, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp của BTV báo chí trong thời kỳ hội tụ, phục vụ cho công tác tuyển dụng, đào tạo nội bộ và bố trí nhân sự tại các tòa soạn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại đặt vấn đề đổi mới phương thức đào tạo riêng cho biên tập viên báo chí?

Thực tế các cơ sở đào tạo báo chí ở Việt Nam lâu nay chủ yếu tập trung đào tạo kỹ năng phóng viên (PV), các học phần chuyên sâu về biên tập chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Trong khi đó, hệ thống báo chí phát triển mạnh với 859 cơ quan báo chí (tính đến năm 2017), yêu cầu BTV phải đóng vai trò "gác cổng" xử lý đa phương tiện trong tòa soạn hội tụ. Việc thiếu đào tạo chuyên sâu về biên tập dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường lúng túng khi xử lý bản thảo và gây ra nhiều sai sót trên các ấn phẩm, đặc biệt là báo điện tử.

2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những cơ sở nào?

Dữ liệu định lượng được thu thập qua 650 phiếu điều tra sinh viên tại 3 cơ sở đào tạo báo chí lớn: Học viện Báo chí và Tuyên truyền (250 phiếu), Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội (200 phiếu), và Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM (200 phiếu). Dữ liệu định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu lãnh đạo và BTV tại 9 cơ quan báo chí tiêu biểu (Báo Nhân dân, Báo Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Công thương, Báo Đại biểu Nhân dân, Báo Xây dựng, Báo Thanh tra, Báo Nhà báo và Công luận, Đài PT-TH Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam) cùng các giảng viên cơ hữu ngành báo chí.

3. Tỷ lệ phân bố các khối kiến thức trong chương trình đào tạo báo chí theo khảo sát của luận án là bao nhiêu?

Khảo sát cấu trúc chương trình đào tạo cử nhân báo chí giai đoạn 2013-2017 tại 3 trường cho thấy: khối kiến thức đại cương chiếm khoảng 1/3 tổng số tín chỉ/đơn vị học trình; khối kiến thức cơ sở ngành chiếm khoảng 1/4 tổng số tín chỉ/đơn vị học trình; và khối kiến thức chuyên ngành chiếm khoảng 1/3 tổng số tín chỉ/đơn vị học trình. Tuy nhiên, trong khối chuyên ngành, các học phần nghiệp vụ biên tập còn chiếm tỷ lệ rất thấp.

4. Luận án đề xuất những giải pháp cốt lõi nào nhằm đổi mới phương thức đào tạo BTV báo chí?

Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp dựa trên các yếu tố bảo đảm chất lượng: (1) Đổi mới chuẩn đầu ra và thiết kế khung chương trình tăng cường học phần biên tập chuyên sâu; (2) Chuyển dịch phương pháp giảng dạy sang mô hình truyền nghề, tòa soạn mô phỏng; (3) Nâng cao năng lực thực tiễn của đội ngũ giảng viên thông qua luân chuyển thực tế và mời chuyên gia tòa soạn; (4) Đầu tư trang thiết bị phòng studio, phần mềm tòa soạn và đổi mới cách thức đánh giá sinh viên dựa trên sản phẩm; (5) Tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và cơ quan báo chí trong khâu thực tập nghề nghiệp.

5. Khung chương trình đào tạo mẫu do tác giả thiết kế nhằm giải quyết bài toán gì?

Chương trình mẫu được thiết kế dựa trên các yêu cầu chuẩn đầu ra về phẩm chất chính trị, kiến thức nền tảng và kỹ năng tác nghiệp BTV trong môi trường truyền thông số. Chương trình này khắc phục tính phân mảnh của các chuyên ngành truyền thống, tích hợp các kỹ năng biên tập đa phương tiện (văn bản, âm thanh, hình ảnh, đồ họa, dữ liệu) để các cơ sở đào tạo có thể tham khảo áp dụng trực tiếp.


Kết luận

Luận án "Đổi mới phương thức đào tạo biên tập viên báo chí ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Thuỳ Dương là công trình nghiên cứu ứng dụng chuyên biệt về phương thức đào tạo chức danh BTV báo chí trong bối cảnh truyền thông hội tụ. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lý luận dạy học đại học với khảo sát thực nghiệm tại 3 cơ sở đào tạo lớn và 9 cơ quan báo chí, luận án đã làm rõ những bất cập về chương trình, phương pháp giảng dạy và cơ sở vật chất kỹ thuật của mô hình đào tạo hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và thiết kế một khung chương trình đào tạo BTV mang tính ứng dụng thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các cơ quan báo chí tại Việt Nam.