phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận của đổi mới phƣơng thức đào tạo biên tập viên báo chí. Chƣơng 2: Khảo sát thực trạng phƣơng thức đào tạo biên tập viên báo chí ở các cơ sở đào tạo hiện nay. Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp đổi mới phƣơng thức đào tạo biên tập viên báo chí ở Việt Nam trong thời gian tới. 10 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Những nghiên cứu về lý thuyết đào tạo, nguyên lý đào tạo 1. Lý thuyết dạy học cộng tác Theo L luận dạy học đại học (Lƣu Xuân Mới, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội, 2000), lý thuyết dạy học cộng tác là một trong bốn xu hƣớng mới trong lý luận dạy học đại học. Thuyết dạy học cộng tác hay thuyết cộng tác trong dạy học (Collaborative) là tích hợp của cả hai cách tiếp cận: tiếp cận hƣớng vào học sinh (learner centred approach) và tiếp cận hƣớng vào giáo viên (teacher centred approach), đồng thời phủ định luôn cả hai thuyết đó, đƣa ra quan điểm về sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học.
Cũng theo lý thuyết này, kiểu dạy học hiện đại ở đại học có những đặc điểm sau: Thứ nh t, việc dạy học đƣợc cá thể hoá cao độ, tức là tự học - cá thể hoá, tôn trọng nhịp độ cá nhân phù hợp với năng lực của từng ngƣời; Thứ hai, việc dạy đƣợc khách quan hóa tối đa, nghĩa là quan hệ giao tiếp giữa dạy và học, những mệnh lệnh điều khiển của dạy (kể cả kiểm tra) đều đƣợc chuyển thành ngôn ngữ viết và đƣợc đƣa ngay vào tài liệu giáo khoa tự học của sinh viên để họ chấp hành; Thứ ba, diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa, mà trở thành nguồn động cơ nhận thức khoa học: giải đáp thắc mắc, tổng kết tƣ tƣởng khoa học và kích thích tƣ duy mới, tạo nhu cầu chiếm lĩnh chân lý mới; Thứ tư, tài liệu giáo trình đƣợc chia thành những học phần, đơn vị học trình, biên soạn tiếp cận theo mô đun (modul); Thứ năm, mục tiêu dạy học đƣợc diễn đạt một cách cụ thể, tƣờng minh và tính đo lƣờng đƣợc (measurable) dƣới dạng những chuẩn mực (standards) về kiến thức và kỹ năng. Thứ sáu, việc chỉ đạo và kiểm tra trong dạy học đƣợc giao phó cho một hệ thống những ngƣời hƣớng dẫn. Công trình này cung cấp tri thức cho phần cơ sở lý luận của Đề tài, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về công tác đào tạo nói chung, đào tạo biên tập viên báo chí nói riêng. Lý thuyết học tập xã hội Trong Giáo tr nh L thuyết truy n thông (Nxb.
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013), tác giả Lƣơng Khắc Hiếu cho rằng lý thuyết học tập xã hội quan tâm 11 tới mặt xã hội thay vì mặt cá nhân của truyền thông và hành vi; mặc dù nó vẫn đặc biệt chú ý tới phƣơng thức con ngƣời tiếp cận môi trƣờng xã hội và quyết định cái mà mình sẽ làm. Lý thuyết học tập xã hội cho rằng, mọi ngƣời học tập nhờ: Quan sát việc ngƣời khác làm; Xem xét các hậu quả những ngƣời đó trải qua; Dự liệu điều sẽ xảy ra với chính họ nếu họ làm theo hành vi của ngƣời khác; Hành động bằng việc tự thử nghiệm hành vi; So sánh kinh nghiệm của mình với cái đã xảy ra với những ngƣời khác; Khẳng định niềm tin về hành vi mới. Khi áp dụng lý thuyết học tập trong giáo dục đào tạo, sẽ có 4 hệ quả xảy ra: 1) chỉ ra vai trò quan trọng của quan sát và bắt chƣớc trong học tập; 2) nhấn mạnh vai trò của ngƣời dạy trong quá trình đào tạo; 3) chỉ ra phƣơng pháp tự học hiệu quả; 4) đƣa ra những chú ý nhằm tăng khả năng giáo dục từ xa thông qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng nhƣ phát thanh, truyền hình, Internet… Lý thuyết học tập xã hội giúp ích cho tác giả Đề tài phân tích, so sánh các phƣơng pháp đào tạo và đƣa ra những giải pháp phù hợp trong đào tạo biên tập viên báo chí ở Việt Nam hiện nay. Triết lý giáo dục trong đào tạo biên tập viên báo chí Trong bài viết “Phát triển chư ng tr nh giáo dục (Tập bài giảng dành cho học viên khoá đào tạo chuyên ngành Quản lý giáo dục của trƣờng ĐH Giáo dục, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2011), tác giả Trần Hữu Hoan đã chỉ ra rằng, có 4 triết lý cơ bản đƣợc áp dụng trong giáo dục: 1) Triết lý duy tâm (Idealism) coi trọng yếu tố tinh thần, đạo đức và cho đó là sự giải thích cơ bản về thế giới xung quanh.
Theo đó, ngƣời dạy chỉ có nhiệm vụ cung cấp cho ngƣời học những kiến thức tiềm ẩn sẵn có, là ngƣời dẫn dắt về tinh thần, đạo đức; 2) Triết lý hiện thực (Reaalism) cho rằng, vật chất có cuộc sống thực độc lập với nhận thức của con ngƣời; 3) Triết lý thực dụng (Pragmatism) coi kiến thức nhƣ một quá trình chuyển biến liên tục của thực tế, việc học là quá trình tham gia của ngƣời học vào giải quyết vấn đề trong các tình huống thực; 4) Triết lý hiện sinh (Existentialism) có nét đặc trƣng là mang tính chủ quan, tự do cá nhân và dựa trên cơ sở nhận thức của cá nhân. Soi chiếu vào PTĐT BTV báo chí, từ triết lý này, nhu cầu xã hội đối với biên tập viên báo chí là xuất phát điểm để xác định mục tiêu đào tạo, từ đó chi phối 12 chuẩn đầu ra, nội dung chƣơng trình đào tạo cũng nhƣ các yếu tố khác trong quy trình đào tạo cuả nhà trƣờng. Chƣơng trình đào tạo cần thiết kế mềm dẻo, linh hoạt, kế thừa… Những yếu tố này liên quan mật thiết, chi phối đến PTĐT BTV báo chí. Các nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ Trong bài “Đ o tạo theo hệ thống tín chỉ: Các nguyên l , thực trạng v giải pháp , (Tham luận tại Hội nghị toàn quốc, ĐH Sài Gòn, 2010), tác giả Trần Thanh Ái đã khái quát những nguyên lý cơ bản, làm cơ sở cho việc đào tạo theo học chế tín chỉ của Dewey J., tác giả cuốn sách Dân ch v Giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch, Nxb.
Tri Thức, Hà Nội, 2008). Theo đó, tác giả nêu những nguyên lý đào tạo sau: - Nguyên l dân ch hoá: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời để đáp ứng nhiều mục tiêu, trong đó có sự thay đổi về quan niệm giáo dục. Từ quan niệm một nền giáo dục dựa trên quyền lực (pédagogie d’autorité), theo đó ngƣời học chỉ có nhiệm vụ là phục tùng, chấp nhận vô điều kiện chƣơng trình mà cơ sở đào tạo quy định và nội dung mà ngƣời dạy truyền đạt, đến quan niệm dân chủ trong giáo dục (cf. Democracy and Education, J.
Dân chủ trong giáo dục đƣợc thể hiện bằng các nỗ lực: quan tâm đến điều kiện của ngƣời học; quan tâm đến nhu cầu và sở thích của ngƣời học. - Nguyên l đại chúng hoá giáo dục đại học (xã h i hoá, theo thuật ngữ c a J. Dewey): Đó là: Tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhiều ngƣời có thể tiếp cận với nền giáo dục đại học, bằng cách mở rộng cửa đón tiếp họ khi họ có điều kiện học đại học, bất kể tuổi tác; Xây dựng quy chế đào tạo đáp ứng đƣợc quỹ thời gian dành cho học tập của ngƣời học; Quy chế tốt nghiệp dựa trên số tín chỉ mà họ tích luỹ đƣợc, chứ không gò bó ở khung thời gian cứng nhắc. - Nguyên l dạy học tích cực: Phát triển các tƣ tƣởng giáo dục mới của các nhà triết học Châu Âu nhƣ J.
Rouseau, thuyết Tiến bộ đƣợc J.Dewey áp dụng trong Trƣờng Thực nghiệm thuộc ĐH Chicago. Ông cho rằng “đã đến lúc các vấn đề về môn học phải phụ thuộc vào ngƣời học. […] Bằng cách nhấn mạnh rằng các nhu cầu và mối quan tâm của ngƣời học cần phải đƣợc xem xét và bằng cách nhận ra rằng ngƣời học mang vào nhà trƣờng cơ thể, tình cảm và tinh thần cùng với tâm 13 trí của mình, các nhà tiến bộ đã thu hút đƣợc sự chú ý và lòng trung thành của các nhà giáo dục. Các nhà tƣ tƣởng theo thuyết Tiến bộ cho rằng chân lý là tƣơng đối, và giáo dục là nhằm giúp ngƣời học không ngừng tìm kiếm chân lý.
Vì thế, dạy học là hƣớng dẫn ngƣời học nắm bắt phƣơng pháp khoa học. Đó chính là nền tảng của nguyên lý dạy học tích cực ngày nay. Mặc dù chỉ là lý thuyết chung, nhƣng các nguyên lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ nêu trên giúp tác giả Luận án tham khảo trong xây dựng khung lý thuyết cho đổi mới phƣơng thức đào tạo biên tập viên báo chí ở nƣớc ta hiện nay. ****** Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể rút ra những đánh giá sau: Các lý thuyết, triết lý về đào tạo đại học đều nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời dạy và ngƣời học.
Tuy nhiên trong xã hội học tập hiện đại, quan niệm ngƣời dạy là trung tâm, ngƣời học phải phục tùng chấp nhận vô điều kiện đã không còn phù hợp. Chƣơng trình đào tạo của nhà trƣờng hiện nay cần phải xây dựng mềm dẻo, linh hoạt, hƣớng đến ngƣời học, kích thích năng lực và sự sáng tạo của họ, giúp họ phát triển kỹ năng để thích ứng nhanh với cuộc sống. Nhƣ vậy, bằng các triết lý, lý thuyết nêu trên khi nghiên cứu các PTĐT, có thể thấy có những yếu tố, nội dung quan trọng của lý thuyết đƣợc áp dụng vào PTĐT. Việc tạo cho ngƣời học quyền chủ động, đƣợc cá thể hoá cao độ; việc khuyến khích giảng viên giảng dạy theo cách nêu vấn đề; việc biên soạn giáo trình theo hƣớng mở nhằm kích thích tƣ duy sáng tạo của ngƣời học, tăng cƣờng nội dung thực hành… chính là những cơ sở lý thuyết để tác giả Luận án triển khai nghiên cứu về PTĐT BTV báo chí hiện nay.
Qua tiếp cận các lý thuyết này, có thể nhận xét rằng một trong những yếu tố đánh giá PTĐT BTV báo chí là thông qua phƣơng pháp giảng dạy, trình độ chuyên môn và trình độ sƣ phạm của giảng viên, phƣơng pháp học tập của sinh viên. Những công trình nghiên cứu về đào tạo báo chí, các phƣơng thức đào tạo báo chí, yếu tố tác động tới phƣơng thức đào tạo báo chí, về lý luận báo chí 2. Những công trình nghiên cứu về lý luận báo chí - G.Lazutina (Đào Tấn Anh, Hồ Quốc Vĩ, Lê Xuân Tiềm dịch) (2003), C sở hoạt đ ng sáng tạo c a nh báo, Nxb Thông tấn.