phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan về cơ chế tự chủ tài chính tại các trƣờng Đại học công lập ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trƣờng Đại học Thƣơng mại Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trƣờng Đại học công lập ở Việt Nam. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm và vai trò của trường Đại học công lập Theo Luật Giáo dục đại học (GDĐH) ban hành tháng 6/2012, trường Đại học công lập (ĐHCL) là cơ sở Giáo dục Đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư xây dựng, cung cấp trang thiết bị dạy học, bố trí cán bộ, công chức quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy. và thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng.
Đại học công lập có vai trò to lớn trong sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ (KHCN) của Quốc gia và phát triển đất nước: - Đại học công lập là nơi cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, đào tạo ra lực lượng lao động có trình độ cao, có tư duy linh hoạt, mềm dẻo, có khả năng cập nhật kiến thức mới để thích nghi với sự thay đổi của môi trường lao động. - Đại học công lập giữ vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - Góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. - Đại học công lập luôn là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước.
Có nhiệm vụ đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quá trình CNH-HĐH đất nước. Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính Để hiểu về cơ chế tự chủ tài chính, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm: cơ chế, tự chủ, tự chủ đại học, tự chủ tài chính. - “Cơ chế” là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn 10 tại và phát triển. (theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2000) - “Tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối.
Trong lĩnh vực tự chủ tài chính (TCTC) cách thức (cơ chế) vận hành các phạm trù TCTC do cái gì quyết định. Đây là vấn đề cần được làm rõ. Sự vận hành các phạm trù thuộc lĩnh vực TCTC chịu sự tác động chi phối của hai nhân tố, bao gồm: Một là, các quy luật kinh tế, tài chính đã và đang tồn tại trong một môi trường kinh tế, tài chính nhất định. Hai là, sự phản ứng của con người trước sự vận động theo tính qui luật khách quan của các phạm trù kinh tế, tài chính.
Hay nói cách khác là con người đưa ra những cách thức để hướng sự vận động của các phạm trù kinh tế, tài chính mang tính qui luật khách quan theo những yêu cầu chủ quan của mình. Với quan niệm “cơ chế” là cách thức thì trong lĩnh vực TCTC cách thức đó do con người tạo ra và nó mang dấu ấn chủ quan là chủ yếu. Như vậy, cách thức trong trường hợp này có thể hiểu là những qui định của con người trước sự vận động mang tính qui luật của phạm trù TCTC. Khi hàm ý cơ chế là những qui định của con người thì những qui định đó luôn bao gồm hệ thống các quyền và lợi ích.
Việc sử dụng hệ thống các quyền và lợi ích để đưa ra những quy định (cơ chế) mang lại hiệu quả chung cho Quốc gia khi những qui định này phù hợp với sự vận động mang tính qui luật của TCTC. Đây là cách tiếp cận về thuật ngữ “cơ chế” trong lĩnh vực TCTC. Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ, về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước.3 Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học công lập - Tự chủ đại học là nói đến đến quyền tự do của các trường Đại học (ĐH) và mức độ tự do được đưa ra các quyết định riêng và những điều bắt buộc các trường 11 đại học phải thực hiện trong việc sử dụng quyền tự do này. Bản chất của tự chủ là sự phân chia quyền lực từ nhà nước tới các trường Đại học.
Phạm vi quyền tự chủ thay đổi theo thời gian nhưng nó đều gắn với lĩnh vực học thuật, quản trị điều hành, pháp luật và những vấn đề tài chính. Qua phân tích ở trên cũng cho thấy tự chủ tài chính là một yếu tố, một thẩm quyền của tự chủ Đại học. Nó là một khái niệm được sử dụng khi đồng thời quan tâm tới cả vấn đề tài chính và quyền tự chủ Tự chủ tài chính thực chất là một cơ chế quản lý tài chính mà ở đó thủ trưởng của đơn vị được trao quyền tự chủ phát triển và mở rộng cung ứng các hoạt động dịch vụ. Cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học công lập là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm cho các đại học công lập có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của trường.
Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học công lập ở Việt Nam * Tính tất yếu Đất nước ta đang bước vào thời kỳ kinh tế hội nhập, phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục đại học công lập giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực có trình độ cao, góp phần quan trọng vào thành công của của sự nghiệp đổi mới, giữ vững định hướng XHCN đưa đất nước tiến vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Trải qua hơn 10 năm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, giáo dục Đại học công lập ở nước ta đã từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội theo hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính. Việc trao quyền tự chủ tài chính cho các trường Đại học công lập có ý nghĩa 12 quan trọng, là hành lang pháp lý bắt buộc các trường phải tự đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và liên doanh liên kết.
Trao quyền tự chủ cho các trường Đại học công lập đơn vị sự nghiệp tạo ra sự chủ động sáng tạo, linh hoạt trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, đồng thời nâng cao tính tự chịu trách nhiệm khiến cho các đơn vị phải biết tiết kiệm, tránh lãng phí. Cơ chế tự chủ cho phép các trường Đại học công lập đơn vị sự nghiệp được mở rộng hoạt động dịch vụ của mình, mở rộng các hình thức liên kết nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị và đơn vị được sử dụng nguồn thu đó theo quy định. Chính điều này đã kích thích các đơn vị tìm kiếm, thu hút nguồn kinh phí ngoài kinh phí Ngân sách Nhà nước (NSNN), muốn vậy họ phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Hoạt động của các đơn vị trở nên năng động hơn theo hướng đa dạng hoá các loại hình hoạt động, nhờ vậy tăng nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị.
Nếu trước kia các đơn vị chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ ngân sách cấp thì nay họ có nguồn lực từ nhiều cách. Như vậy chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng được nâng lên, đồng thời gánh nặng đối với ngân sách cũng được giảm nhẹ, Nhà nước chỉ phải tập trung cho những ngành trọng điểm mũi nhọn. * Tính khách quan Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng; nó là một nhân tố quyết định sự tăng trưởng, phát triển vững bền KT-XH của một Quốc gia và cả cộng đồng Quốc tế. Nếu không kịp thời đổi mới giáo dục, các trường đào tạo ở tất cả các cấp sẽ tụt hậu và mất dần vị trí trong lòng chính người dân Việt Nam để nhường chỗ cho các trường của nước ngoài.
Tự chủ trong giáo dục trong đó có tự chủ về tài chính sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực của đội ngũ giảng viên, nội lực của nhà trường, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo sức mạnh cho trường để có thể đứng vững và lớn mạnh trong quá trình cạnh tranh. Trải qua những năm 80 của thế kỷ XX cuộc cách mạng khoa học công nghệ 13 (KHCN) đã đưa nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt nam nói riêng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, đó là nền kinh tế tri thức. Dẫn tới vai trò của giáo dục Đại học công lập ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là nơi sản sinh ra hệ thống tri thức mới, phát triển, chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần phát triển KT-XH bền vững. Với những lý do này, ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, giáo dục đại học của Việt Nam cùng với của thế giới đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ phát triển quy mô và nâng cao chất lượng.
Cụ thể là cần tìm kiếm, khai thác thêm các nguồn tài chính ngoài ngân sách (NS).