CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 1. Lược sử hình thành Tư tưởng triết học về nhà nước và pháp quyền đã được nêu lên ngay trong thời cổ đại ở cả phương Đông và phương Tây, bắt đầu từ đó nó từng bước phát triển và dần dần được hoàn thiện. Nhà triết học Xôlông (638-559 TCN) là người đầu tiên nêu ý tưởng về nhà nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai trò của pháp luật.
Theo ông: “Chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [29, tr. Nhà nước và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân chủ, tự do và công bằng, “hãy kết hợp sức mạnh (quyền lực nhà nước) với pháp luật” [29, tr. Platon (427-374 TCN) cho rằng: Tinh thần thượng tôn pháp luật phải là nguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền; ngược lại, nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật và những nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Arixtốt (384-322 TCN) đã nhấn mạnh pháp luật thống trị tất cả.
“Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật, cơ quan thực thi pháp luật và toà án” [66, tr. Xixêrôn (106-43 TCN) đã đưa ra quan niệm mới về nhà nước, coi nhà nước là “một cộng đồng pháp lí”, “một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và quyền lợi chung” và ông đề xuất nguyên tắc: Sự phục tùng pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người. Luan van 10 Trong thời Cận đại, các nhà tư tưởng, chính trị và pháp lý cũng thường quan tâm, bàn luận về nhà nước pháp quyền, G.Lốccơ (1632-1704) nhà triết học duy vật người Anh đã phát triển quan điểm pháp quyền thành một thế giới quan pháp lý mới, khẳng định mạnh mẽ những tư tưởng nhân đạo, các nguyên tắc tự do và bình đẳng của tất cả mọi người đồng thời thừa nhận rằng, các quyền con người không thể bị tước đoạt, cần tìm tòi những cơ cấu, hình thức và công cụ chống lại một cách không khoan nhượng sự tiềm đoạt quyền lực chính trị công khai và tình trạng vô trách nhiệm của quyền lực đó đối với cá nhân và xã hội. Môngtécxkiơ (1869-755) trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đề ra lí thuyết phân chia quyền lực, một trong những nội dung chủ yếu của nhà nước pháp quyền tư sản.
Môngtécxkiơ cho rằng trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực là: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp [43, tr. Ba thứ quyền này phải được tổ chức sao cho chúng có tính độc lập và kiềm chế lẫn nhau, bởi vì: Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện Nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì chính người đó hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Nếu quyền tư pháp nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán. Quan toà sẽ là người đặt ra luật.
Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người, một tổ chức, hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết. Cùng với lí thuyết về phân chia quyền lực, Môngtécxkiơ cũng bổ sung thêm những quan điểm lí luận quan trọng về quyền tự do chính trị, về giải quyết vấn đề công bằng và bảo đảm tính tối cao của pháp luật. Sự kiểm soát quyền lực nhà nước không đến từ một chủ thể bên ngoài, mà chính là sự kiểm soát tự thân của quyền lực nhà nước, tự quyền lực kiểm Luan van 11 soát quyền lực, tự nhà nước kiểm soát nhà nước.
Nhân dân trực tiếp nói lên tiếng nói tối hậu của mình trong việc định hình cụ thể một chính quyền, nhưng gián tiếp thực hiện quyền cai quản cũng như quyền kiểm soát thông qua những định chế được bầu. Quyền lực tối thượng là thuộc về nhân dân. Tư tưởng về sự phân quyền và mối tương quan giữa người dân và nhà nước của Môngtécxkiơ đã trở thành một nội dung cơ bản của học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản. Thuyết “Khế ước xã hội” của G.
Rút xô (1712 - 1788) mang đến những quan điểm sâu sắc hơn. “Khế ước xã hội” có thể hiểu là pháp luật và bộ máy nhà nước do dân tạo ra. Khi nhà nước vi phạm “khế ước xã hội” đã thỏa thuận thì nhân dân có quyền thay thế bằng nhà nước mới. Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thông qua việc ủy quyền cho các đại biểu của mình trong bộ máy nhà nước.
Theo ông, quyền lực tối cao là cái không thể từ bỏ được, vì nó là sự thể hiện ý chí chung và không thể phân chia được, vì bản thân nó là kết quả của sự tổng hợp. “Khế ước xã hội” tạo ra hình thức chính trị có tổ chức của xã hội. Quyền lực dựa trên ý chí nhân dân, nhân dân là thực thể có chủ quyền. Chỉ có nhân dân mới có quyền lập pháp chân chính.
Pháp luật chỉ có giá trị, khi nó bảo đảm tác dụng như nhau đối với tất cả mọi người và không một sự vi phạm nào mà không bị trừng phạt bởi luật pháp. Yêu cầu hàng đầu của một đạo luật không phải là hạn chế người dân, mà là hạn chế người cầm quyền. Hêgen (1775-1831) cho rằng, con người tự do và các tổ chức tự do chỉ hình thành trong một quá trình lịch sử, ở đó họ tự tạo ra mình với tính cách là một thực thể tinh thần, tạo ra thế giới tự do của mình, tạo ra nhà nước và pháp luật. Theo Hêgen, pháp luật là tư tưởng tự do, còn nhà nước cũng chính là pháp luật, là pháp luật cụ thể có nội dung phong phú và do đó là toàn bộ hệ thống quy phạm pháp lý (một hệ thống bao hàm việc thừa nhận các Luan van 12 quyền cá nhân, quyền gia đình và quyền xã hội).
Ông đặt nhà nước trên đỉnh cao nhất, trên cả xã hội công dân và cá nhân, đó là thứ luật pháp ở đỉnh chóp của một hình nón pháp luật. Hêgen đã thần thánh hóa nhà nước và coi như là sự du ngoạn của tinh thần tuyệt đối trên trái đất. Ông ca ngợi nhà nước pháp quyền, yêu cầu các quyền cá nhân cùng xã hội phải phụ thuộc và phục tùng nhà nước. Nhưng nhà nước không như một bộ máy bạo lực, mà là một thứ pháp luật cao hơn và đầy đủ hơn luật gia đình, luật xã hội công dân (toàn bộ hệ thống pháp luật).
Hêgen cho rằng, ý thức về tự do phát triển đầy đủ nhất trong chính thể quân chủ lập hiến dựa trên cơ sở của nguyên tắc phân quyền, bởi sự phân quyền trong nhà nước sẽ đảm bảo tự do công cộng. Ông coi pháp quyền là tồn tại hiện có của ý chí tự do, nhưng nó có quá trình phát triển trải qua nhiều cấp độ và mỗi cấp độ có hình thức riêng, mà khởi điểm là ý chí tự do. Nhìn chung, tư tưởng của Hêgen về nhà nước pháp quyền có ý chống lại sự lạm quyền, chuyên chế, chống dùng vũ lực và bạo lực phi pháp. Tư tưởng về nhà nước và pháp quyền phương Đông cũng xuất hiện khá sớm, nhất là ở Trung Hoa cổ đại tiêu biểu có: Quản Trọng (khoảng thế kỷ VI TCN) là người đầu tiên bàn về pháp luật và lấy nó để quản lý đất nước.
Ông chủ trương cần phải công bố pháp luật rộng rãi cho dân chúng, cần phải dạy cho dân biết rõ luật pháp thì mới thi hành được và khi thi hành phải giữ lòng tin với dân. Bàn về phép trị nước, Quản Trọng đề cao Luật, Hình, Lệnh và Chính. Luật là để định danh phận cho mọi người mà vì thế dân không tranh, Lệnh là để cho dân biết việc mà làm, Hình là để trừng phạt những kẻ làm trái luật và lệnh đã ban, Chính là sửa cho dân theo đường ngay, lẽ phải. Tư tưởng pháp trị được phát triển phong phú hơn bởi ba nhà tư tưởng Trung Hoa thời Chiến quốc là Thận Đáo, Thân Bất Hại và Thương Ưởng, với việc hướng trọng vào mỗi chủ trương tương ứng về Thế, Thuật và Pháp.
Những tư tưởng này được Hàn Phi Tử (khoảng 280 - 233) kế thừa và xây Luan van 13 dựng thành hệ thống mà nội dung trung tâm là sử dụng pháp luật để trị nước. Hàn Phi cho rằng, việc xác lập và duy trì trật tự kỷ cương của xã hội không thể dùng “nhân trị” mà phải dùng đến “pháp trị”. Theo ông, duy trì hiệu lực của pháp luật thì không những giữ được trật tự chính trị bình thường, mà còn thu được những hiệu quả lớn, cho nên làm cho pháp luật “không hỏng nát” mới là tiền đề và mục đích tối cao của chính trị. Hàn Phi yêu cầu phải biên soạn pháp luật thành sách và đặt ở nơi công đường để nói rõ cùng trăm họ, nên bậc minh chúa khi nói về luật pháp thì mọi kẻ hèn kém trong nước không ai không nghe thấy.
Từ đó, ông chủ trương thực thi một thứ pháp luật thành văn được công bố, áp dụng như nhau đối với mọi người, vượt ra ngoài sự khác biệt về địa vị và tình thân sơ. Hàn Phi nhận định rằng, nếu có Pháp tốt nhưng quan lại không gìn giữ mà làm cho rối loạn hoặc tô vẽ thành điều sai trái, thì cần có cái để nhận biết, đó chính là Thuật. Ông chỉ rõ: Chỉ có Pháp nhưng không có Thuật để biết rõ người ngay kẻ gian và dù Pháp có được chăm tô vẽ hay giải thích thế nào mà người làm chúa không có Thuật thì bên dưới dễ làm việc sai trái, vì thế Thuật đối với người làm chúa là cái phải có để điều khiển bề tôi. Cùng với việc đề cao pháp luật, Hàn Phi cho rằng, xã hội luôn biến đổi nên người cầm quyền phải dựa vào nhu cầu khách quan đương thời và xu thế của thời đại mà lập ra chế độ mới.
Tư tưởng “pháp trị” của Hàn Phi rất thực tế và khác với “nhân trị” của Nho gia, nên không phải ngẫu nhiên mà học thuyết của ông được sử dụng rộng rãi cuối thời Chiến quốc và điều đó đã đáp ứng được yêu cầu về một quốc gia tập quyền thống nhất Trung Hoa lúc đó.