mở đầu thời kì mới, thời đại mới. 10 Theo Lê Quang Thiêm (2014) [43, tr.30-43], Đông Dương tạp chí (1913-1917) và tờ Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã xuất hiện những khái niệm khoa học như: trừu-tượng, kí-hiệu, liên-từ, học-vận. Có thể nói giai đoạn này đã dần dần xuất hiện hệ TN khoa học xã hội và nhân văn. Khoa học tạp chí (1931 – 1933) đóng góp những TN khoa học kĩ thuật tạo ra chủ yếu dưới dạng phiên âm TN từ tiếng Pháp.
Tuy nhiên Nguyễn Văn Thịnh đưa ra quan điểm trên tờ Khoa học tạp chí là không nên vay mượn từ tiếng Pháp mà nên vay mượn phiên âm từ tiếng La tinh hoặc Hi Lạp bởi vì tiếng Pháp cũng có nguồn gốc từ tiếng La tinh và nếu cần vay mượn thì nên đi từ gốc. Dương Quảng Hàm (1919) [15] nói rất rõ về việc không nên vay mượn tiếng Pháp khi bàn về vấn đề đặt TN mới và vay mượn TN nước ngoài. Theo ông thì tiếng Việt không mượn tiếng Pháp được vì tiếng Pháp là tiếng có nhiều vần, nhiều âm khó đọc mà nên mượn chữ Nho (tức chữ Hán) vì về triết học, khoa học, kĩ nghệ Tàu dịch đúng và gần đủ. Điều này chứng tỏ ở giai đoạn này vấn đề cấu tạo TN bắt đầu được quan tâm và phát triển.
Tiếp theo là tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) của Nguyễn Ái Quốc [37] với số lượng lớn từ vựng chuyên môn cùng tần suất sử dụng cao báo hiệu sự hình thành hệ TN chính trị xã hội Việt Nam hiện đại. Thời điểm những năm 40, Hoàng Xuân Hãn (1942) [18] được xem là người tiên phong trong việc xây dựng một hệ thống TN khoa học về những khái niệm trong toán học, vật lý, hóa học, cơ học và thiên văn học dựa trên cơ sở tiếng Pháp. Ủy ban Khoa học Nhà nước đã công bố áp dụng tạm thời bản “Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt” vào tháng 6/1966. Các tác giả có đóng góp tiêu biểu về TN giai đoạn cuối thế kỷ XX và đầu thế kỉ XXI có thể kể đến như: Lê Khả Kế với nhiều công trình từ điển thuật ngữ, Lưu Vân Lăng với các nghiên cứu về thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt, Nguyễn Như Ý với các công trình từ điển chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là cuốn Từ điển giải thích Thuật ngữ Ngôn ngữ học (1996), Vũ Quang Hào xuất bản nhiều sách và từ điển chuyên về ngôn ngữ báo chí.
Trong khoảng thời gian từ năm 1978 và 1979 có tới bốn hội nghị khoa học về chuẩn mực hóa chính tả và TN đã được tổ chức với sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn ở hầu hết các chuyên ngành. Nội dung hội nghị chủ yếu tập trung vào các vấn đề như xác định khái niệm TN, tiêu chuẩn của TN, phương thức xây dựng 11 TN, vấn đề vay mượn TN nước ngoài. Rất nhiều ý kiến đóng góp có giá trị về TN như Lê Khả Kế, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, Hoàng Văn Hành, Lê Văn Thới, Nguyễn Thạc Cát, Võ Xuân Trang. Một cột mốc đặc biệt quan trọng là việc thành lập Hội đồng Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng chuẩn hóa TN (1984).
Có thể nói rằng sự thành lập Hội đồng này đã góp phần định hướng việc phiên chuyển TN đi theo lối thống nhất hơn và cụ thể là chọn biện pháp phiên chuyển theo chữ là chính. Tuy nhiên cách xử lý TN nước ngoài trong giai đoạn này vẫn chưa được nhất quán bởi vì sự vay mượn mạnh mẽ các TN nước ngoài. Theo Hoàng Văn Hành (2010) [16] TN trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ đã phát triển khác “hình thành nhờ ba con đường cơ bản là: 1) TN hoá từ ngữ thông thường; 2) cấu tạo những TN tương ứng với TN nước ngoài bằng phương thức mô phỏng và 3) mượn nguyên những TN nước ngoài (thường là những TN có tính quốc tế)”. Từ đó trong hệ TN tiếng Việt hình thành ba lớp TN với những đặc trưng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa là: 1) lớp TN thuần Việt; 2) lớp TN mô phỏng và 3) lớp TN quốc tế.
Trong mấy thập kỉ gần đây lớp TN quốc tế nổi lên hai xu hướng đáng được chú ý gồm: - Sử dụng các TN được cấu tạo bằng các yếu tố Việt thay cho những TN gốc Hán khi có thể, ví dụ: máy bay, sân bay, thay cho phi cơ, phi trường… - Trực tiếp tiếp nhận nhiều TN từ các ngôn ngữ khác mà không qua khâu trung gian là tiếng Hán, kể cả một số trường hợp đã có TN gốc Hán tương ứng, thí dụ: acid (cường toan), vitamin (sinh tố). Tháng 11 năm 2008 hội thảo Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hội nhập do Hội Ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức có 10 báo cáo khoa học và tham luận được trình bày. Hội thảo có 3 nội dung chính: a. Thống nhất, hoàn chỉnh và chuẩn hóa TN; b.
Đặc điểm TN và tiêu chuẩn xác định TN; c. Sử dụng TN, giải thích TN trong sách giáo khoa và trong văn bản quản lí nhà nước. Một nhánh đề tài cấp Bộ Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương pháp luận biên soạn các loại từ điển và bách khoa thư Việt Nam (do Hà Quang Năng 12 làm chủ nhiệm) nghiên cứu những vấn đề lí luận và phương pháp luận biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ. Sau khi nghiệm thu, kết quả nghiên cứu của nhánh đề tài này đã được xuất bản với tên gọi Thuật ngữ học – những vấn đề lí luận và thực tiễn (Hà Quang Năng, 2013) [34].
Cuốn sách tập trung vào các vấn đề sau: (i) Tổng kết những thành tựu nghiên cứu về thuật ngữ học (TNH) ở Liên Xô, Liên bang Nga và Cộng hòa Liên bang Đức; (ii) Đặc điểm định danh TN và những con đường hình thành, sáng tạo TN; (iii) Những nguyên tắc biên soạn từ điển TN; (iv) Đánh giá công trình đầu tiên ở Việt Nam về nghiên cứu biên soạn TN – Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn; (v) Khảo sát, miêu tả, nhận xét cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của một số cuốn từ điển TN cụ thể. Ngoài ra, còn có một số bài báo nghiên cứu các vấn đề cụ thể của TN đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Lê Quang Thiêm (2000) [41] trong bài báo Thuật ngữ Việt Nam đầu thế kỉ XX liên hệ với văn hóa và phát triển đã đi sâu tìm hiểu quá trình hình thành TN tiếng Việt trong 3 thập niên đầu thế kỉ 20. Bài báo này cũng đưa ra 6 đặc trưng của TN với hi vọng chuẩn hóa TN.
Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của nghiên cứu TN đồng thời cũng kéo theo nhiều hạn chế. Sự xuất hiện ồ ạt của các TN ngoại nhập ngày càng lấn át, có nguy cơ phá vỡ sự ổn định của hệ thống TN tiếng Việt. Ngoài ra một hiện trạng rất phổ biến là sự không thống nhất đối với cách đọc và phiên âm nhiều TN tiếng nước ngoài gây khó khăn cho người sử dụng. Vì vậy ông cho rằng vấn đề chuẩn hóa thế nào đối với TN tiếng Việt là đặc biệt quan trọng.
Tiếp theo có nhiều luận án nghiên cứu về thuật ngữ đã được công bố ở một số lĩnh vực cụ thể như: Khoa học kỹ thuật: Ngô Phi Hùng (2014) [21] nghiên cứu về các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt dựa trên tư liệu thuật ngữ Toán – Cơ – Tin học, Vật lí. Trần Ngọc Đức (2018) [10] nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt. Những luận án này góp phần xây dựng hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật ở Việt Nam. Khoa học xã hội: Lê Thị Mỹ Hạnh (2019) [17] nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật trong tiếng Việt.
Ngô Thị Thanh Vân 13 (2019) [48] nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh- Việt. Những luận án này góp phần hoàn thiện hệ thuật ngữ khoa học xã hội. Kinh tế: Đỗ Thị Thu Nga (2018) [35] nghiên cứu khảo sát đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ tài chính Anh - Việt dựa trên trên văn bản chuyên ngành tài chính. Đỗ Hạnh Dung (2018) [7] nghiên cứu các thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tương đương của chúng trong tiếng Việt.
Y học: Phí Thị Việt Hà (2017) [14] nghiên cứu khảo sát và đánh giá hệ thống thuật ngữ chuyên ngành phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt. Nguyễn Thị Hoài (2018) [24] nghiên cứu về các thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh và cách chuyển dịch các thuật ngữ này sang tiếng Việt. Nguyễn Chi Lê (2019) [27] khảo sát các thuật ngữ đông y tiếng Việt. Nói tóm lại, trong suốt mấy thập niên qua trong công tác nghiên cứu TN, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là về thực tiễn xây dựng các hệ thống TN cũng như biên soạn từ điển TN.
Như vậy, thuật ngữ trải qua quá trình hình thành và phát triển mạnh mẽ và có cơ hội phát triển thành một ngành khoa học độc lập. Hàng loạt các luận án tiến sĩ về TN đã được bảo vệ thành công cùng với công tác nghiên cứu lí thuyết về TN được đẩy mạnh đã chứng tỏ rằng vấn đề TNH đã bắt đầu được hình thành. Hệ thống thuật ngữ ngày càng phát triển với những khái niệm, tên gọi đến hệ thống tri thức trong một ngành khoa học nhất định. Đặc biệt, gần đây TN được quan tâm nghiên cứu theo một hướng mới, đó là nghiên cứu, đối chiếu và đề xuất những biện pháp, phương hướng dịch thuật để chuẩn hóa TN.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ y học trên thế giới và ở Việt Nam * Tình hình nghiên cứu thuật ngữ y học trên thế giới Lịch sử của TNYH châu Âu bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại, thế kỷ 6-5 trước Công nguyên. Frinculescu (2009) [97] tóm tắt lịch sử y học là người đầu tiên mô tả các bệnh dựa trên quan sát, và những cái tên do ông đặt cho nhiều bệnh vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, ví dụ như viêm khớp, viêm thận, viêm màng phổi. Trên cơ sở này, từ Hy Lạp và Latinh vẫn được sử dụng trong TNYH hiện đại. Một bước ngoặt quan trọng là việc xuất bản De Medicina (giữa năm 25–35 sau Công nguyên), phần duy nhất còn lại của bộ bách khoa luận của Aulus Cornelius 14 Celsus (2015) [80] viết bằng tiếng Latinh.