Chương 1 Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày hệ thống lý thuyết liên quan đến đề tài của luận án. Đây là cơ sở mà chúng tôi làm xuất phát điểm để nghiên cứu những vấn đề cụ thể ở các chương sau. Chương 2 Văn bản thư tín thương mại tiếng Anh Nghiên cứu đặc điểm hình thức, cách tổ chức các bước thoại, một số đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong 4 thể loại thư tín thương mại tiếng Anh - Mỹ. Chương 3 Văn bản thư tín thương mại tiếng Việt Tương tự như chương 2, luận án khảo sát một số đặc điểm hình thức, cách tồ chức các bước thoại, một số đặc điểm ngôn ngữ của 4 thể loại thư tín thương mại tiếng Việt.
Chương 4 Văn bản thư tín thương mại tiếng Anh, tiếng Việt: Một số đối chiếu Dựa vào 3 đặc điểm: hình thức tổ chức văn bản, sự phân bố các bước thoại, chiến lược và một số đặc điểm ngôn ngữ nổi trội để đối chiếu nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. VĂN BẢN VÀ DIỄN NGÔN Văn bản được giới ngữ văn học chú ý từ rất lâu. Nhưng phải thừa nhận rằng, từ khi ngành Ngôn ngữ học văn bản và sau này là Phân tích diễn ngôn ra đời thì văn bản mới trở thành đối tượng của ngôn ngữ học một cách chính danh.
Cách tiếp cận này một mặt cho thấy, khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức theo hướng dụng học, mặt khác, còn bộc lộ cái nhìn từ bỏ giới hạn thường được coi là cuối cùng của đơn vị câu để vươn tới các đơn vị lớn hơn câu. Và ở giai đoạn đầu, người ta chú ý nhiều đến văn bản viết và nó được hình dung như sau: Văn bản là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời mang tính hoàn chỉnh, được khách quan hoá dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng những thể thống nhất trên câu hợp nhất bằng những loại hình liên kết khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng, (Galperin, 1987). Văn bản ở đây được xác định là văn bản viết, việc xem xét nó trong giao tiếp có ý nghĩa quan trọng. Nói khác, văn bản được quan sát từ góc nhìn là một sản phẩm hay trong quá trình tương tác sẽ chi phối cách nhìn nhận và lý giải khách thể nghiên cứu.
Bởi vì, việc nhìn nhận văn bản như một sản phẩm hay một quá trình không những chi phối cách nhận diện, phân loại mà còn liên quan đến việc xác lập các đặc trưng cơ bản của hai đơn vị này. Trước hết, giai đoạn mở rộng tầm nhìn ra ngoài phạm vi câu, dùng những thành tựu nghiên cứu về câu để xem xét văn bản, khái niệm văn bản được hình dung khá đơn giản. Đó là một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh không kể là nói hay viết. Gắn liền với cách nhận diện này, có thể ghi nhận các ý kiến sau, nó là đơn vị giao tiếp lớn nhất, (Louis 14 Hjemslev, 1953); một đơn vị ngôn ngữ trong sử dụng; một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa Halliday & Hasan (1976).
Cũng ở vào giai đoạn này, từ một góc độ khác, văn bản được hình dung như một đơn vị có cấu trúc trừu tượng xét về mặt lý thuyết, trong khi diễn ngôn là đơn vị cụ thể để gắn liền với những ngữ cảnh giao tiếp (van Dijk T A 1977). Cách lý giải này rất gần với sự phân biệt câu/phát ngôn mà về mặt sâu xa là bắt nguồn từ sự lưỡng phân ngôn ngữ/lời nói của Ferdinard de Sausure (1857-1903). Trần Ngọc Thêm (1985,1999), trong một cuốn sách nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt xác định: Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử. Ngoài các câu - phần tử trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc.
Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Cũng trong chiều hướng mở rộng cách tiếp cận ngoài phạm vi, Hồ Lê (1996, tr. 203), trong một công trình ít chịu ảnh hưởng của Âu Mỹ nhất, hình dung cơ chế ngôn giao gồm có các đơn vị lời, từ lớn đến nhỏ như sau: văn bản/ngôn bản, đoạn văn/đoạn ngôn, câu/phát ngôn, và văn bản/ngôn bản được xác định là “đơn vị ngôn giao lớn nhất mà chủ đề và tư tưởng chủ đề của nó là động lực cho sự sinh thành từng phát ngôn cụ thể kế tiếp nhau trên kết cấu tuyến tính để cấu thành văn bản/ ngôn bản. Khi trào lưu phân tích diễn ngôn nở rộ, hai thuật ngữ văn bản, diễn ngôn, theo trường phái, góc nhìn mà cách hình dung cũng rất khác nhau.
Ít nhất là có hai khuynh hướng chính sau: (i) Đồng nhất - Văn bản là một hồ biểu ngôn ngữ của một hành động giao tiếp bao gồm văn bản viết và văn bản nói, G. - Hai khái niệm này đồng nghĩa có thể thay thế cho nhau trong rất nhiều trường hợp. 15 (ii) Phân biệt - Văn bản là để chỉ văn bản viết còn diễn ngôn chỉ văn bản nói. - Văn bản để chỉ sự thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp (ngôn ngữ nói: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ …; ngôn ngữ viết: một bài thơ, một mẫu quảng cáo trên báo …), còn diễn ngôn để chỉ sự diễn thuyết, sự giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh (D Numan, 1989).
- Văn bản là một chuỗi ngôn từ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh, còn diễn ngôn là một chuỗi ngôn từ được nhận biết là trọn vẹn về nghĩa được hợp nhất lại và có tính mục đích (G. - Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, điệu bộ được nhận dạng vì mục đích phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích …, còn diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, một cuộc tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể…. Trên bình diện lý thuyết, sự phân biệt như trên tất yếu dẫn đến sự phân biệt giữa phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn.
Ở chiều hướng thứ nhất, sự phân tích hướng đến các đặc điểm có tính chất hình thức bên ngoài ngữ cảnh ngôn ngữ. Còn ở chiều hướng thứ hai, sự phân tích tập trung khảo sát khía cạnh chức năng. Nói một cách khái quát, một đằng chú ý đến cấu trúc, nhất là cấu trúc hình thức và một đằng lại quan tâm đến quá trình hành chức. Ngày nay theo một quan niệm phổ biến, diễn ngôn có nghĩa khá rộng bao gộp cả văn bản, nhiều loại hình giao tiếp, cả nói và viết bao gồm ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, bản ngôn ngữ, xuất phát từ việc hoặc thừa nhận văn bản/diễn ngôn là một sản phẩm ngôn từ đã hình thành hoặc xem xét như một quá trình hoặc chú ý cả hai đặc điểm này.
16 Thực tế giao tiếp cho thấy khó lòng phân biệt một cách rạch ròi, đâu là văn bản, đâu là diễn ngôn mà thường chúng không nhoè vào nhau trong văn bản đã có diễn ngôn và ngược lại. Cách hình dung của luận án sau đây, chủ yếu là nhằm xác lập một số thao tác để tiện làm việc: Văn bản là một cấu trúc ngôn từ hoàn chỉnh, bao gồm nhiều yếu tố mạch lạc, tồn tại dưới dạng viết hay nói, chuyển tải một nội dung, nhắm đến một đối tượng, gắn liền với một mục đích giao tiếp nhất định. Ở đây, cần lưu ý, ở điển dạng, văn bản thường có một cấu trúc với một độ phức tạp nhất định nào đấy còn trường hợp cá biệt, văn bản có thể là một từ, một ngữ, một câu và trong chuyên luận này chúng tôi dùng văn bản như một thuật ngữ đại diện, bao gồm cả diễn ngôn. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA VĂN BẢN Trong một công trình giới thiệu tổng quát về Ngữ pháp văn bản, de Beaugrande R & Dressler W (1981) đã chỉ đã chỉ ra một số đặc điểm của văn bản như sau: - Tính liên kết(cohesion) - Tính mạch lạc (coherence) - Tính chủ đích(intentionality) - Tính tiếp nhận(acceptability) - Tính thông tin(informativity) - Tính ngữ cảnh (contextuality) - Tính tương tác(intertextuality) Như nhiều nhà nghiên cứu đã xác định, văn bản là một đơn vị nghĩa, một đơn vị trong sử dụng, việc xác định các đặc điểm của nó không thể không chú ý đến các phương diện này.
Tuy nhiên, việc nhấn mạnh đến đặc điểm nào là tùy thuộc vào quan điểm nghiên cứu. Trong đó nhiều công trình coi liên kết và mạch lạc là các đặc điểm có tính quan yếu. Đặc điểm ngôn ngữ từ bình diện sử dụng Quan sát từ thực tiễn sử dụng, để hoàn thành chức năng giao tiếp một văn bản, trong nhận thức của luận án, phải bao gồm các đặc điểm sau: - Tính hoàn chỉnh - Tính cấu trúc - Tính liên kết và mạch lạc - Tính thực hiện giao tiếp. Tính hoàn chỉnh Hoàn chỉnh bao gồm cả hoàn chỉnh về nội dung và hoàn chỉnh về mặt hình thức.
Ở dạng lý tưởng, văn bản đơn vị giao tiếp, phân biệt với một tập hợp câu chưa trọn vẹn, trước hết ở bản chất chính thể của nó. Vì là một đơn vị nghĩa nên việc xác nhận văn bản/phi văn bản không thể dựa vào mặt định lượng, mà phải là định tính. Nói rõ hơn, văn bản dài ngắn không quan trọng mà quan trọng là ở chỗ đã thông báo một nội dung hoàn chỉnh hay chưa. Một văn bản có thể đề cập đến một chủ đề hay nhiều chủ đề, chúng có thể bình đẳng với nhau hoặc phụ thuộc vào nhau theo trật tự lớn nhỏ, chủ đề lớn/chủ đề nhỏ hoặc theo quan hệ hạt nhân và vệ tinh.
Nhưng phải đảm bảo tính thống nhất và trọn vẹn về mặt chủ đề, nghĩa là phải tuân thủ tính nhất thể nội dung, hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này.