Chương 1: Tổng quan về tình hì nh nghiên cứu và cơ sở líluận. Chương này trì nh bày kết quả nghiên cứu về giới từ tiếng Hán vàtiếng Việt của giới ngôn ngữ học, vànhững công trình nghiên cứu đối chiếu về giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt. Về phần líthuyết của ngôn ngữ học đối chiếu, chúng tôi lấy những quan điểm của GS.Hứa Dư Long (许余龙) và GS. Lê Quang Thiêm làm cơ sở líluận.
Về lí thuyết của giới từ, chúng tôi rút ra những quan điểm đã được công nhận của các học giả đi trước, ứng dụng vào nghiên cứu thực tế, như khái niệm, đặc điểm vàsự phân loại giới từ trong tiếng Hán vàtiếng Việt, phân biệt giới từ với động từ, liên từ và trợ từ trong tiếng Hán hiện đại, phân biệt giới từ với tì nh thái từ trong tiếng Việt hiện đại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt. Chương này chúng tôi đối chiếu về chức năng ngữ pháp, vị tríphân bố, cấu tạo của giới từ tiếng Hán với tiếng Việt. Bên cạnh đó, chúng tôi còn đối chiếu giới ngữ của tiếng Hán với giới ngữ của tiếng Việt.
Hơn nữa, đối chiếu về chức năng ngữ nghĩa của giới từ giữa tiếng Hán vàtiếng Việt, cụ thể là: giới từ chỉ không gian (địa điểm, nơi chốn), giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ phương hướng, giới từ chỉ đối tượng, giới từ chỉ phạm vi, giới từ chỉ phương diện, giới từ chỉ mục đích, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ căn nguyên, giới từ chỉ công cụ (phương thức) vàgiới từ chỉ ngoại lệ, v. Chương 3: Đối chiếu hoạt động của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt. Trong chương này, chúng tôi sẽ đối chiếu về sự hiện diện vàkhông hiện diện của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt, khảo sát những nhân tố chi phối giới từ. Tiếp đó, đối chiếu về chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt, tìm ra điểm giống vàkhác nhau giữa chúng.
Nói chung, những giới từ chỉ căn nguyên, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ phương diện, giới từ chỉ phạm vi, giới từ chỉ đối tượng của tiếng Hán vàtiếng Việt đều cókhả năng đánh dấu cho chủ đề. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍLUẬN 1. Tổng quan tình hì nh nghiên cứu 1.
Tình hì nh nghiên cứu giới từ tiếng Hán Vấn đề từ loại, trong đó có giới từ với phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới từ xưa đến nay luôn được coi là một trong những trọng điểm ngữ pháp được giới nghiên cứu ngôn ngữ vàgiảng dạy tiếng quan tâm. Tiếng Hán vàtiếng Việt cũng không làngoại lệ. Trong lịch sử phát triển từ loại tiếng Hán, giới từ là một trong những từ loại xuất hiện khá sớm. Giới từ xuất hiện sớm nhất được xác định là vào thời Ân Thương (B.C năm 1600 – năm 1046), trong Kim văn (chữ đúc đồng) đã xuất hiện đến 20 giới từ.
Thời cổ đại, giới từ trong tiếng Hán được gọi là ―từ‖, ―trợ tự‖ hoặc ―ngữ trợ‖. Thời cổ đại, do hạn chế về mọi mặt, ngôn ngữ chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt vàhệ thống, ngữ pháp tiếng Hán nói chung vàgiới từ tiếng Hán nói riêng vẫn chưa được hệ thống hóa một cách hoàn chỉnh. Cho đến thế kỷ 19, với sự xuất hiện của trước tác ―Mã thị văn thông‖ (马氏文通)của MãKiến Trung (马建 忠, 1898, 72), giới từ mới thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu, đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử nghiên cứu giới từ tiếng Hán. MãKiến Trung tham khảo ngữ pháp học phương Tây, phân loại từ loại tiếng Hán cổ đại thành 9 loại: Danh từ, đại từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ.
Hệ thống này thiết lập nên mô hình căn bản của hệ thống từ loại tiếng Hán. Hệ thống về sau không có thay đổi gìlớn, trong khoảng thời gian tương đối dài, có thay đổi thìchỉ làviệc tách số từ ra khỏi tĩnh từ vàtách ngữ khítừ ra khỏi trợ từ, tăng thêm lượng từ vàtừ tượng thanh (ideophone) màthôi. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau MãKiến Trung phải kể đến Chương Sĩ Chiêu (章士钊), là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ ―giới từ‖ và cho rằng: ―Giới từ lànhững từ kết hợp với danh từ, danh đại từ để liên kết với động từ, hì nh dung từ vànhững từ khác. Giới từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ mànó dẫn ra, đứng trước được gọi là ‗tiền trí giới từ‘, đứng sau gọi là ‗hậu trígiới từ‘‖.
Cuốn ―Tân trứ văn pháp quốc ngữ‖ của LêCẩm Hi (黎锦熙, 1924, 62) làtác phẩm đầu tiên nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán hiện đại một cách hệ thống. Cuốn sách này có cống hiến đáng kể trong nghiên cứu từ loại ở chỗ đã phân loại từ loại tiếng Hán thành 5 loại lớn và9 loại cơ bản: thực thể từ (danh từ, đại từ), vị từ ( động từ), khu biệt từ (tính từ, phó từ), quan hệ từ (giới từ, liên từ), tì nh thái từ (trợ từ, thán từ). Loại cơ bản thìgiống với ― Mã Thị Văn Thông‖, chỉ có điều tên gọi thay đổi một chút. Trong cuốn ―Đại cương văn pháp Trung Quốc ‖ của LãThúc Tương (吕叔湘, 1942, 68), tác giả đã phân chia ra từ ngữ khí.
Từ ngữ khíđược phân loại ở một phạm vi lớn hơn phạm vi từ ngữ khí thông thường, bao gồm một số phótừ biểu thị ngữ khívàtừ cảm thán. Cuốn ―ngữ pháp tiếng Hán hiện đại‖ của Vương Lực(王力,. Cuốn ―Bản thảo tiếng Hán hiện 1943, 80)lại phân chia thành số từ vàtừ ngữ khí đại‖ của Đinh Thanh Thụ (丁声树, 1961, 44) tiến hành phân loại lượng từ, từ tượng thanh (bao gồm thán từ). Cuốn ―Hệ thống ngữ pháp giảng dạy tiếng Hán tạm định‖ (1956) đã phân loại từ tiếng Hán thành 11 loại, chúng làdanh từ, lượng từ, đại từ, động từ, tí nh từ, số từ, phótừ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ.
Hệ thống này được sửa lại trong ―Đề cương ngữ pháp giảng dạy trung học phổ thông‖ (1984). Trong cuốn sách này, từ tiếng Hán đã tăng thêm 1 loại, đó là từ tượng thanh. Hệ thống 12 từ loại này cótầm ảnh hưởng tương đối lớn. Từ điển từ loại tiêu chuẩn được xuất bản hiện tại, ngoại trừ từ điển cábiệt cóphân tách ra từ ngữ khí, đại đa số từ điển khi biên tập vẫn sử dụng và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tham khảo hệ thống này.
Triệu Nguyên Nhiệm (赵元任) trong ―Văn pháp tiếng Trung Quốc‖ (1968, 93), lại đề cập thêm 1 loại từ, đó là khu biệt từ (区别词), bao gồm: 这 giá(đây), 那 na (đó), 每 mỗi (mỗi), 各 các (các), 另 linh (khác), 一 nhất (nhất), 十 thập (thập), 整 chỉnh (cả), 半 bán (nửa), 许多 hứa đa (đa phần). Trần Vọng Đạo (陈望道) trong ―Giản luận văn pháp‖ (1978), đã phân từ loại ra thành 判断词 (phán đoán từ), 系词 (hệ từ), 指示词 (chỉ thị từ). Chu Đức Hi (朱 德熙) trong ―Bản thảo ngữ pháp‖ (1982, 85) đã tiến hành phân tách khu biệt từ (区 别词) tính từ, phân tách từ nơi chốn, từ phương vị, vàtừ thời gian từ danh từ, phân tách từ ngữ khítừ trợ từ, tổng cộng có17 từ loại khác nhau. Lưu Nguyệt Hoa (刘月华) trong cuốn ―Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại thực hành‖ của mình đã phân chia từ loại thành 12 loại theo góc độ giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán, gồm danh từ, động từ, tí nh từ, số từ, lượng từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, từ tượng thanh, từ cảm thán.
[66] Cuốn ―Tiếng Hán hiện đại‖ của khoa Tiếng Trung trường Đại học Bắc Kinh năm 1993 đã tách tính từ trạng thái thành từ trạng thái, nhưng vẫn coi từ nơi chốn, từ phương vị, từ thời gian đều thuộc danh từ, tổng cộng có15 loại. Tiếp đó, còn rất nhiều học giả nổi tiếng đã đi sâu nghiên cứu về giới từ như Trần Thành Dịch, Trương Chí Công, Chu Đức Huy, Quách Cẩm Lương, Triệu Thục Hoa, Phó Vũ Hiền, Chu Tiểu Tân v. Các học giả đã có những luận giải khákỹ về nội hàm và ý nghĩa mở rộng, nhìn chung đã miêu tả được đặc trưng cơ bản, bao gồm chức năng ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp giới từ. Điển hình như tổng kết nhận định của nhà ngôn ngữ học Triệu Thục Hoa, Phó Vũ Hiền, Chu Tiểu Tân.
Triệu Thục Hoa cho rằng: giới từ có năm đặc trưng ngữ pháp như sau: (1) Giới từ không thể độc lập đảm nhận các thành phần trong câu; (2) Giới từ cũng không thể làm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành câu, không thể độc lập trả lời câu hỏi, nhưng những trong một số ngữ cảnh nhất định cóthể được dùng để trả lời câu hỏi; (3) Giới từ không cóhì nh thức lặp; (4) Giới từ không kết hợp được với bổ ngữ; (5) Giới từ không kết hợp được với trợ từ động thái. Cũng như vậy, Phó Vũ Hiền vàChu Tiểu Tân sau khi so sánh động từ, giới từ vàliên từ với nhau đã tổng kết và đưa ra những đặc điểm ngữ pháp của giới từ như sau: (1) Giới từ không thể đảm nhận thành phần câu, không thể đơn độc trả lời câu hỏi. Một số giới từ có thể kết hợp được với trợ từ động thái ―了‖, ―着‖ , ―过‖, một số giới từ không thể kết hợp được, giới từ không có hì nh thức lặp; (2) Những giới ngữ đứng trước vị ngữ, phần lớn cóthể được tu sức bởi phótừ phủ định ―不‖, ―没‖; (3) Sau giới từ có thể kết hợp được với tân ngữ (Thuật ngữ trong giới ngữ pháp tiếng Hán. Giới ngữ pháp Việt Nam gọi làbổ ngữ), vị từ hoặc thể từ, cấu thành giới ngữ tu sức cho vị từ hoặc thể từ.
Từ những nghiên cứu trên đây, cóthể thấy giới từ làmột loại hư từ trong từ loại tiếng Hán hiện đại. Về tiêu chuẩn phân chia từ loại, từ công trình ―Mã thị văn thông‖ ra đời đến nay, các nhàngữ pháp học cũng đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn để phân chia từ loại tiếng nh thái; 2. Chức năng ngữ pháp Hán, chủ yếu cóba tiêu chuẩn sau: 1. Về tiêu chuẩn hình thái, tiếng Hán (cũng như tiếng Việt) làngôn ngữ đơn lập, đặc trưng hình thức của từ không phong phú như ngôn ngữ khuất chiết (inflecting language, như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, v.v…), cho nên, Quách Nhuệ (郭锐) chỉ ra rằng: đối với tiêu chuẩn phân chia từ loại tiếng Hán mànói, tiêu chuẩn hình thái không thể coi làm tiêu chuẩn phân chia từ loại chí nh, chỉ có thể làm một tiêu chuẩn tham khảo.
[54, tr113] Về tiêu chuẩn ý nghĩa, MãKiến Trung (1989), Vương Lực (1943) đều lấy tiêu chuẩn này để phân chia từ loại tiếng Hán.