Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ ĐỘC LẬP XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN QUÂN SỰ 1. Khái niệm xét xử, độc lập xét xử của toà án 1. Khái niệm xét xử Theo Từ điển Luật học, “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính)” [37, tr. Định nghĩa trên đã chỉ ra được bản chất của hoạt động xét xử nhưng chưa làm rõ được chủ thể thực hiện hoạt động này.
Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã quy định: Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Như vậy, Hiến pháp nước ta quy định xét xử là thẩm quyền riêng của Tòa án. Chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử và khi nói đến hoạt động xét xử là nói đến hoạt động của Tòa án. Căn cứ vào nội dung quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, có thể phân loại hoạt động xét xử của toà án gồm có xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính.
Căn cứ vào hình thức thực hiện, có thể phân loại hoạt động xét xử của toà án gồm có xét xử công khai và xét xử kín. Căn cứ vào tính chất xét xử, có thể phân loại hoạt động xét xử của toà án gồm có xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Nhìn chung, hoạt động xét xử của Tòa án có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, tính đặc thù trong áp dụng pháp luật. Tòa án không áp dụng quy định pháp luật chung chung mà việc áp dụng các quy định của pháp luật của Tòa án là cá biệt, chặt chẽ, theo thủ tục do pháp luật quy định, áp dụng cho một hoặc một số đối tượng cụ thể trong từng trường hợp cụ thể.
7 - Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án có tính độc lập. Hoạt động xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ: “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.
- Thứ ba, các phán quyết của Tòa án có hiệu lực tuyệt đối, chỉ bị hủy, sửa theo một trình tự đặc biệt, đó là trình tự xét xử phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng một hệ thống các cơ quan riêng và có tính cưỡng chế cao. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm xét xử như sau: Xét xử là hoạt động đặc trưng của Tòa án do Hội đồng xét xử thực hiện để xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc, từ đó đưa ra một phán quyết theo quy định của pháp luật.
Khái niệm độc lập xét xử Độc lập có nghĩa là tự mình tồn tại, hoạt động, không dựa, không phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác [15]. Theo quy định của pháp luật, chức năng xét xử thuộc về tòa án. Như vậy, độc lập xét xử có nghĩa là hoạt động xét xử của toà án không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Hiến pháp 2013 quy định, Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp - một nhánh quyền lực nhà nước.
Vì vậy, xét từ góc độ thực hiện quyền tư pháp, đây chính là chỉ hoạt động xét xử của Tòa án. Độc lập trong xét xử là bản chất, là gốc rễ của độc lập tư pháp, thể hiện ở mọi phán quyết hay quyết định của Tòa án không chịu sự ràng buộc, can thiệp hay áp đặt từ bất kỳ một cơ quan nào, một chủ thể nào; bất kể đó là cơ quan quyền lực nhà nước hay tổ chức xã hội. Nói cách khác, độc lập xét xử theo nghĩa rộng chính là độc lập tư pháp, là sự độc lập của nhánh quyền lực tư pháp với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp; theo đó, quyền tư pháp không 8 chịu sự tác động trái pháp luật và bất hợp lý của bất kỳ nhánh quyền lực nào khác, hoặc từ một cá nhân, hay từ các nhóm lợi ích chính trị của những người cầm quyền. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng đã quy định rõ: “Khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật”.
Điều đó có nghĩa là độc lập xét xử chính là độc lập của thẩm phán và hội thẩm trong hoạt động xét xử. Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân nào mà chỉ phụ thuộc và bị chi phối bởi các quy định của pháp luật. Từ quan điểm xem độc lập xét xử chính là độc lập của Tòa án hay độc lập xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm, có nghĩa là Tòa án phải độc lập về mặt thể chế và Thẩm phán. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong xã hội, bảo đảm rằng trật tự, công lý có thể được thực thi trong xã hội.
Điều đó là bởi Tòa án là cơ quan xét xử; phán quyết của Tòa án có hiệu lực bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội nên Tòa án phải đứng ở vị trí cân bằng, không được và không bị tác động bởi yếu tố bên ngoài dẫn đến nghiêng về bất cứ bên nào; có như vậy phán quyết của Tòa án mới công bằng bảo vệ được quyền, lợi ích của các bên và bảo đảm hiệu lực của các quy định pháp luật. Nói tóm lại, độc lập xét xử là nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất và xuyên suốt quá trình thực hiện chức năng của Tòa án, thể hiện ở việc trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm chỉ tuân theo những quy định của pháp luật để xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc từ đó đưa ra một phán quyết theo pháp luật đã quy định mà không phụ thuộc hay bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác. Bản chất, nội hàm, ý nghĩa và điều kiện bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của toà án 1. Bản chất của nguyên tắc độc lập xét xử của toà án Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bản chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ một tập hợp những đặc tính cốt lõi của sự vật, hiện tượng, phản ánh những mối liên hệ tự nhiên, ổn định trong sự vật, hiện tượng, 9 và chi phối, quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, bản chất của nguyên tắc độc lập xét xử là tổng hợp tất cả những yếu tố cốt lõi bên trong của phạm trù này, thể hiện khả năng của Toà án, mà cụ thể là của thẩm phán và hội thẩm, trong việc tự mình thực hiện hoạt động xét xử chỉ dựa trên pháp luật mà không bị phụ thuộc hay chi phối bởi bất kỳ chủ thể nào khác. Điều này thể hiện qua cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Tòa án; không tổ chức, cá nhân nào có thể can thiệp để thay đổi cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc hoạt động đó để tác động đến việc xét xử của Tòa án; phán quyết của Tòa án đưa ra chỉ tuân thủ theo quy định của pháp luật và chịu sự chi phối bởi quy định của pháp luật. Như đã đề cập, Tòa án thực hiện quyền tư pháp, mà bản chất của quyền tư pháp chính là quyền xét xử, đưa ra phán quyết về hành vi vi phạm pháp luật; do đó, Toà án phải được trao cho một quy chế riêng, độc lập, thể hiện qua cách thức tổ chức, nguyên tắc hoạt động và quy trình, thủ tục xét xử chặt chẽ, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật. Nếu hoạt động xét xử của Toà án bị can thiệp, chi phối bởi bất kỳ chủ thể nào trong xã hội thì sẽ không thể bảo đảm tính khách quan, vô tư, và Toà án sẽ không còn được xem là thiết chế duy trì, bảo hộ công lý trong xã hội.
Khi các mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật không được giải quyết một cách công minh, mọi chủ thể trong xã hội sẽ mất niềm tin vào khả năng bảo đảm trật tự và công lý của nhà nước, xã hội lúc đó sẽ rối loạn, chế độ sẽ đứng trước nguy cơ sụp đổ. Vì vậy, xét về bản chất, độc lập xét xử của toà án chính là một nguyên tắc nền tảng để tạo lập, duy trì sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của mọi quốc gia. Nội hàm của nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án Ở Việt Nam, “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên tắc đã được hiến định ngay từ Hiến pháp 1946 và được kế thừa trong tất cả các Hiến pháp về sau (Hiến pháp 1959, 1980, 1992) bao gồm 10 Hiến pháp hiện hành 2013. Trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều quy định “Khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật”.
Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiện hành cũng quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, đồng thời nêu rõ: “.nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Xét từ cách tiếp cận của khoa học pháp lý, nội hàm của nguyên tắc độc lập xét xử thể hiện qua các nội dung sau: Thứ nhất, trong xét xử Tòa án phải độc lập với các cơ quan khác. Tòa án là hệ thống cơ quan độc lập tách biệt với cơ quan hành pháp và lập pháp. Tòa án nhân danh Nhà nước bảo vệ pháp luật, đảm bảo pháp luật được thực thi.
Chính vì vậy, yếu tố duy nhất và quan trọng nhất để Tòa án căn cứ khi xét xử là các quy định của pháp luật và Tòa án chỉ được “Thượng tôn pháp luật”. Ngoài ra, Tòa án không thể và không phải chịu bất kỳ áp lực chi phối nào khác từ bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Thứ hai, Tòa án cấp dưới phải độc lập với cơ quan Tòa án cấp trên.