Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư" giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự phát triển của khu vực doanh nghiệp dệt may trong nước dưới tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các biến đổi công nghệ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngành dệt may giữ vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế Việt Nam thông qua việc gia tăng dự trữ ngoại tệ (kim ngạch xuất khẩu tăng từ 5,85 tỷ USD năm 2006 lên 36,14 tỷ USD năm 2018) và giải quyết việc làm (chiếm hơn 20% lao động công nghiệp chế biến chế tạo, gần 5% tổng lực lượng lao động cả nước; năm 2017 tạo ra khoảng 2,5 triệu việc làm với 80% là lao động nữ). Ngành dệt may còn đảm nhiệm vai trò vùng đệm giảm sốc kinh tế, thể hiện qua việc duy trì kim ngạch xuất khẩu 9,12 tỷ USD năm 2008 và 9,07 tỷ USD năm 2009 trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may đối mặt với nhiều khó khăn nội tại như huy động vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chất lượng lao động và nâng cấp chuỗi giá trị. Sự bùng nổ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) làm thay đổi phương thức sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu, đặt các doanh nghiệp trước nguy cơ tụt hậu công nghệ và áp lực tái cấu trúc lao động. Luận án lựa chọn khoảng trống nghiên cứu về sự thay đổi phương thức sản xuất dưới tác động của CMCN 4.0, vận dụng lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực kết hợp lý thuyết chuỗi giá trị và tổ chức ngành để phân tích đối tượng doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 theo cách tiếp cận ngành và chuỗi giá trị, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm ba nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh CMCN 4.0; rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế từ Ấn Độ và Trung Quốc.
- Đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007–2018, chỉ rõ các thành tựu, nút thắt cơ cấu và phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT).
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và nhóm giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh mới.
Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở của việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp dệt may Việt Nam?
- Những tiêu chí và chỉ tiêu nào giúp đánh giá sự phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh của một cuộc cách mạng công nghiệp?
- Trong bối cảnh CMCN 4.0 diễn ra, các yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển doanh nghiệp dệt may?
- Các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 là gì?
- Giải pháp để phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp dệt may hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, trọng tâm là khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2007–2018; định hướng giải pháp cho giai đoạn 2020–2025, tầm nhìn 2030. Luận án phân tích so sánh trước và sau mốc năm 2014 nhằm nhận diện rõ tác động của CMCN 4.0.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các doanh nghiệp đăng ký mã ngành kinh doanh cấp hai là 13 ("Dệt") và 14 ("Sản xuất trang phục") theo Hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam (VSIC).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế theo bốn hướng tiếp cận:
- Tiếp cận doanh nghiệp như chủ thể độc lập dựa trên nguồn lực: Nền tảng là lý thuyết dựa trên nguồn lực (Barney, 1991) phân chia nguồn lực thành vốn vật chất, vốn con người và vốn tổ chức. Sanjaya Lall (2000) chỉ ra rủi ro mất cân bằng năng lực làm chủ khi doanh nghiệp ở nước đang phát triển nhập khẩu công nghệ mà thiếu lao động kỹ thuật tương ứng. Sanghoon Ahn (2003) chứng minh việc nâng cấp vốn vật chất và con người giúp cải thiện năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), dù có hiện tượng giảm năng suất ngắn hạn. Gnesha Wignaraja (2001) đo lường năng lực công nghệ tại Mauritius và mối tương quan với kết quả xuất khẩu. Glaister và cộng sự (2018), Vishal Gupta và cộng sự (2018), Bill Gerrard và Andy Lockett (2018) nghiên cứu vai trò của nhà quản trị và cấu trúc nhóm quản lý đối với kết quả kinh doanh. Leonidou và cộng sự (2017) khảo sát chiến lược kinh doanh sinh thái ở các doanh nghiệp nhỏ.
- Tiếp cận tính kinh tế theo quy mô ở cấp ngành và cụm liên kết ngành: Dựa trên lý thuyết ngoại hiện Marshall (Marshallian Externalities). Itoh và cộng sự (1991), Porter (2000) phân tích vai trò của cụm liên kết ngành (CLKN) trong việc giảm chi phí giao dịch, vận tải và kích thích năng lực cạnh tranh. Shane và Cable (2002), Straub (2005), Safavian và Wimpey (2007), Bougheas và cộng sự (2006) chứng minh việc tập trung doanh nghiệp theo mạng lưới giúp giảm tình trạng bất đối xứng thông tin và cải thiện khả năng tiếp cận vốn ngân hàng. Van Dijk (2005), Rabellotti (2005) so sánh mô hình cụm ngành ở Ý, Mexico và châu Phi. Tambunan (2005) phân tích thực tiễn chính sách cụm doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Indonesia.
- Tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu: Porter (1985), Kaplinsky (1999), Gary Gereffi và Olga Memodovic (2003) mô hình hóa chuỗi cung ứng qua 5 công đoạn và đường cong nụ cười. Humphrey và Schmitz (2003), Verma (2000), Stacey Frederick và Gary Gereffi (2011) nghiên cứu các phương thức nâng cấp vị thế chuỗi giá trị dệt may.
- Tiếp cận vai trò của nhà nước: H. Thamhain (2005) nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong hỗ trợ R&D, kiểm soát rủi ro đổi mới công nghệ và tạo dựng khung pháp lý bảo vệ doanh nghiệp sáng tạo.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nguồn vốn và quy mô doanh nghiệp: Bùi Văn Vần (2014) khảo sát tác động của đòn bẩy tài chính và vốn vật chất đến kết quả kinh doanh. Bùi Văn Tốt (2014) chỉ ra rào cản huy động vốn và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Hoàng Xuân Hiệp (2013) xây dựng 7 tiêu chí đánh giá chất lượng vốn nhân lực dệt may, chỉ ra chất lượng nhân lực thấp và đề xuất chiến lược đầu tư nhân lực. Hà Văn Hội (2012) phân tích rào cản kỹ thuật tại thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản.
- FDI và mạng lưới liên kết: Anwar và Nguyen (2011), Gangnes và cộng sự (2007) xác định tác động lan tỏa tích cực từ FDI trong ngành chế biến chế tạo. Cù Chí Lợi (2012), Bùi Thái Quyên (2015) nghiên cứu mô hình cụm liên kết ngành. Nguyễn Thị Tuệ Anh và Vũ Thị Như Hoa (2016), Nguyễn Quang Thuấn (2018) chỉ rõ hạn chế trong việc thiếu kết nối giữa FDI và doanh nghiệp trong nước cùng rào cản thể chế.
- Vị thế chuỗi giá trị dệt may: Nguyễn Mạnh Hùng (2008), Đặng Thị Tuyết Nhung và Đinh Công Khải (2011), Đinh Thị Hương và Phạm Thị Thanh Hà (2013) lượng hóa phân bổ giá trị: khâu may chiếm 5–7%, thiết kế chiếm khoảng 3%, marketing và phân phối chiếm tới 75%. Việt Nam chủ yếu gia công ở đáy chuỗi giá trị. Hoàng Xuân Hiệp (2017) đánh giá tính khả thi của việc chuyển đổi sang phương thức sản xuất ODM trong 3–5 năm.
- Tác động của CMCN 4.0: Trương Văn Cẩm (2016), Tô Hoài Nam (2016), Nguyễn Thắng (2016), Bộ Khoa học và Công nghệ (2016) cảnh báo nguy cơ thay thế lao động bởi máy móc tự động (robot cắt may sewbots) và xu hướng đưa sản xuất quay về nước phát triển. UNDP và Bộ Công thương (2019) công bố dữ liệu khảo sát 153 doanh nghiệp may và 168 doanh nghiệp dệt về mức độ sẵn sàng công nghệ rất thấp.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kết hợp lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực với lý thuyết tổ chức ngành và lý thuyết chuỗi giá trị để giải thích các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Luận án tập trung phân tích sự dịch chuyển phương thức sản xuất từ nền tảng vật lý thuần túy sang kết hợp nền tảng số hóa trong bối cảnh CMCN 4.0; làm rõ mối quan hệ giữa tập trung địa lý/cụm liên kết ngành với khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và phân bổ lao động; đánh giá thực nghiệm mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước qua việc so sánh các giai đoạn trước và sau năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết kinh tế:
- Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV): Tiếp cận theo Barney (1991), tập trung vào ba nhóm nguồn lực: vật chất (máy móc thiết bị, nhà xưởng), con người (tay nghề, quản trị, R&D) và tổ chức (mạng lưới quan hệ, thương hiệu, chiến lược).
- Lý thuyết tổ chức ngành (Industrial Organization): Phân tích quy mô sản xuất tối ưu, tính kinh tế theo quy mô ở cấp doanh nghiệp đối với ngành dệt và quy mô linh hoạt đối với ngành may; cơ cấu ngành theo sở hữu, vùng lãnh thổ và công nghệ.
- Lý thuyết ngoại hiện Marshall và Cụm liên kết ngành: Tiếp cận theo Porter (2000), phân tích sự tích tụ địa lý giúp chia sẻ nguồn lao động chuyên môn hóa, giảm chi phí lưu thông, giảm bất đối xứng thông tin với tổ chức tín dụng và kích thích lan tỏa tri thức.
- Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu và Mô hình Đường cong nụ cười: Tiếp cận theo Gereffi và Memodovic (2003), xác định cấu trúc 5 công đoạn và sự chi phối của "người mua" toàn cầu. Khái quát hóa chiến lược nâng cấp chuỗi từ gia công CMT (Cut-Make-Trim) sang FOB, OEM, ODM và OBM.
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá:
- Chỉ tiêu về lượng: Số lượng doanh nghiệp hoạt động; cơ cấu theo hình thức sở hữu (DNNN, DNTN, FDI); cơ cấu theo quy mô vốn và lao động (dựa trên Nghị định 56/2009/NĐ-CP và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14); cơ cấu theo vùng địa lý; cơ cấu theo trình độ công nghệ (thủ công, bán tự động, tự động hóa); cơ cấu theo thời gian hoạt động (số năm kinh nghiệm).
- Chỉ tiêu về chất: Các chỉ số tài chính gồm ROA (Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản), ROE (Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu), ROS (Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu) và hiệu suất sử dụng lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả, cụ thể gồm:
- Nghiên cứu tại bàn (Desk research): Tổng quan, kế thừa và hệ thống hóa các tài liệu lý luận, báo cáo khoa học trong và ngoài nước.
- Phương pháp phân tích tổng hợp – so sánh, thống kê mô tả, diễn giải – quy nạp: Phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may giai đoạn 2007–2018; phân loại và so sánh các chỉ tiêu phát triển trước và sau thời điểm năm 2014.
- Phương pháp phân tích SWOT: Xác định điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trước làn sóng CMCN 4.0 tại Chương 3 và Chương 4 để đề xuất giải pháp.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính từ các chuyên gia thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Thêu đan TP. Hồ Chí Minh, và lãnh đạo một số công ty dệt may tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Ý kiến chuyên gia, nhà quản lý ghi nhận qua các cuộc phỏng vấn sâu.
- Dữ liệu thứ cấp: Số liệu các cuộc Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (nhóm mã ngành 13 và 14); số liệu Hải quan Việt Nam; cơ sở dữ liệu UN Comtrade; Bộ Tài chính Nhật Bản; Hải quan Mỹ; Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat); Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS); số liệu khảo sát của UNDP và Bộ Công thương (2019).
Nội dung chính theo từng chương
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phát triển doanh nghiệp dệt may theo các góc độ: nội lực doanh nghiệp theo lý thuyết nguồn lực, tính kinh tế theo quy mô cấp ngành, sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tác động của CMCN 4.0 và vai trò can thiệp của chính phủ. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học về việc thiếu vắng các nghiên cứu vận dụng lý thuyết nguồn lực để giải quyết bài toán phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi chuyển đổi phương thức sản xuất dưới tác động của CMCN 4.0.
Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY
Chương 2 xác lập các luận điểm lý thuyết nền tảng và phân tích đặc trưng ngành:
- Khái niệm: Doanh nghiệp dệt may là các đơn vị tạo ra sản phẩm trung gian hoặc cuối cùng đáp ứng nhu cầu trang phục. Để đảm bảo tính đồng bộ dữ liệu, nghiên cứu tập trung vào doanh nghiệp có mã ngành cấp hai là 13 và 14 theo VSIC. Phát triển doanh nghiệp dệt may là việc gia tăng số lượng, chất lượng, quy mô tối ưu và chuyển dịch cơ cấu nội ngành nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh CMCN 4.0.
- Đặc trưng kỹ thuật:
- Doanh nghiệp dệt thâm dụng vốn, đòi hỏi tính kinh tế theo quy mô ở cấp doanh nghiệp; công nghệ dệt có tính không thể chia nhỏ (indivisibilities), chi phí cố định cao buộc doanh nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất để hạ giá thành.
- Doanh nghiệp may thâm dụng lao động, tỷ lệ máy - người là 1:1, chi phí tài sản cố định thấp, quy mô linh hoạt từ hộ may đo nhỏ lẻ đến nhà máy trên 10.000 công nhân. Hiệu quả ngành may phụ thuộc vào tính kinh tế ngoại hiện thông qua tập trung địa lý.
- Doanh nghiệp có xu hướng thu hút lao động nữ trẻ (dưới 25 tuổi), chu kỳ làm việc ngắn (5–7 năm) do suy giảm thao tác kỹ thuật sau tuổi 25, dẫn đến chi phí đào tạo bình quân cao và biến động nhân sự lớn.
- Tổ chức chuỗi giá trị: Chuỗi dệt may do "người mua" (nhà bán lẻ, thương hiệu toàn cầu) chi phối. Phân bổ giá trị theo đường cong nụ cười: khâu thiết kế (khoảng 3%) và marketing - phân phối (75%) chiếm phần lớn giá trị gia tăng; khâu cắt may chỉ chiếm 5–7%.
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích kinh nghiệm phát triển công nghiệp dệt may, xây dựng vùng nguyên liệu và chính sách hỗ trợ công nghệ của Ấn Độ và Trung Quốc, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về phát triển cụm liên kết ngành, tự chủ nguồn nguyên phụ liệu và nâng cấp chuỗi giá trị.
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2018
Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực trạng phát triển về lượng và chất:
- Biến động số lượng và quy mô: Số lượng doanh nghiệp dệt may tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tuy nhiên quy mô trung bình của doanh nghiệp không tăng; đa số có quy mô vốn nhỏ và siêu nhỏ.
- Mất cân đối cơ cấu: Sự phát triển lệch giữa ngành may và ngành dệt. Ngành may phát triển nhanh nhưng phụ thuộc nặng nề vào vải và nguyên phụ liệu nhập khẩu; công đoạn dệt nhuộm hoàn tất phát triển chậm, liên kết dọc giữa dệt và may lỏng lẻo. Đa số sợi sản xuất ra phải xuất khẩu thô do khâu dệt nhuộm trong nước không tiêu thụ hết.
- Chất lượng và hiệu quả hoạt động: Các chỉ số tài chính ROA, ROE, ROS có sự biến động lớn; hiệu suất sử dụng lao động còn thấp so với các nước trong khu vực. Phần lớn doanh nghiệp may thực hiện gia công đơn giản (CMT), giá trị gia tăng tạo ra thấp. Khâu tiếp thị, xuất khẩu và thiết kế mẫu mã còn yếu kém.
- Mức độ sẵn sàng đối với CMCN 4.0: Luận án dẫn chứng số liệu khảo sát của UNDP và Bộ Công thương (2019) đối với 153 doanh nghiệp may và 168 doanh nghiệp dệt, phản ánh sự chuẩn bị hạn chế của ngành:
| Chỉ tiêu khảo sát (UNDP & Bộ Công thương, 2019) |
Doanh nghiệp dệt (%) |
Doanh nghiệp may (%) |
| Đang triển khai tái cấu trúc lao động và chuẩn hóa kỹ thuật |
44 |
49 |
| Sẽ triển khai tái cấu trúc lao động và chuẩn hóa kỹ thuật |
38 |
27 |
| Đã thực hiện kết nối thiết bị với thiết bị |
10 |
11 |
| Đang có kế hoạch kết nối thiết bị với thiết bị |
7 |
5 |
| Không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT hoặc công nghệ khác |
67 |
73 |
| Không thể nâng cấp thiết bị để kết nối hệ thống |
62 |
50 |
| Không sử dụng mô hình kỹ thuật số nào |
— |
73 |
| Sử dụng mô hình quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP) |
— |
7 |
| Sử dụng mô hình quản lý chuỗi cung ứng (SCM) |
— |
1 |
| Không trang bị kiến thức, kỹ thuật chuẩn bị cho người lao động |
13 |
19 |
- Các hạn chế nội tại: Quy mô vốn nhỏ cản trở đầu tư đổi mới công nghệ; khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm; chất lượng lao động thấp và tỷ lệ luân chuyển lao động cao; thiếu vắng các trung tâm R&D chuyên ngành tại các vùng tập trung công nghiệp.
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƢ
Chương 4 phân tích bối cảnh hội nhập thế hệ mới, xu hướng thời trang thế giới dưới tác động của công nghệ số và phân tích SWOT. Trên cơ sở đó, tác giả xác định quan điểm phát triển bền vững, nâng cấp vị thế chuỗi giá trị và đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách: Xây dựng khung pháp lý khuyến khích đổi mới công nghệ, ưu đãi thuế và đất đai cho các dự án ứng dụng thành tựu của CMCN 4.0; rà soát tiêu chuẩn môi trường đối với công đoạn dệt, nhuộm.
- Phát triển hạ tầng cơ sở và thương mại điện tử: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông; thúc đẩy phát triển thương mại điện tử giúp doanh nghiệp dệt may tiếp cận trực tiếp khách hàng, giảm sự phụ thuộc vào các khâu trung gian thương mại quốc tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Thiết lập mô hình phối hợp ba bên giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp dệt may; đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ tự động, kỹ năng thiết kế thời trang và nhân lực thương mại số.
- Hỗ trợ đổi mới công nghệ: Hỗ trợ tài chính thông qua các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; hướng dẫn doanh nghiệp chuyển đổi từ máy móc cơ khí sang thiết bị có kết nối kỹ thuật số, áp dụng giải pháp quản trị ERP, SCM.
- Phát triển cụm liên kết ngành (CLKN): Khuyến khích liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp dệt, may và công nghiệp hỗ trợ trong cùng một không gian địa lý; hình thành các trung tâm nghiên cứu ứng dụng R&D dùng chung để tận dụng tính kinh tế theo quy mô ở cấp ngành.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các luận điểm về phát triển doanh nghiệp dệt may khi phương thức sản xuất truyền thống (dựa trên nền tảng cơ học, vật lý) chuyển dịch sang phương thức kết hợp nền tảng vật lý với hệ thống không gian ảo (phi vật lý) dưới tác động của CMCN 4.0.
- Xác định và làm rõ khung tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá sự phát triển doanh nghiệp dệt may trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, kết hợp hài hòa giữa các chỉ tiêu đo lường quy mô, cơ cấu theo tổ chức ngành và các chỉ tiêu tài chính, hiệu suất sử dụng lao động theo lý thuyết nguồn lực.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp dệt may của Trung Quốc và Ấn Độ, cung cấp các luận cứ thực tiễn cho Việt Nam về xử lý điểm nghẽn chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu.
- Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007–2018; chỉ rõ hiện tượng gia tăng số lượng nhưng không tăng quy mô, mất cân đối cơ cấu nghiêm trọng giữa dệt và may, và sự phụ thuộc nguyên liệu đầu vào.
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm về mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ 4.0 rất thấp của các doanh nghiệp may và dệt thông qua số liệu khảo sát định lượng cụ thể.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với định hướng phát triển cụm liên kết ngành, đổi mới công nghệ và tái cấu trúc nhân lực nhằm nâng cấp doanh nghiệp tư nhân dệt may Việt Nam lên các nấc thang giá trị gia tăng cao hơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về nguồn số liệu: Do giới hạn phân loại dữ liệu của Tổng cục Thống kê, luận án chỉ tiếp cận các doanh nghiệp có đăng ký mã ngành kinh doanh cấp hai là 13 và 14, không bao quát được toàn diện các doanh nghiệp sản xuất sợi hóa học (mã 2030) hoặc các đơn vị sản xuất phụ tùng, cơ khí dệt may chuyên dụng.
- Về tính thời sự: Chuỗi số liệu thống kê tổng hợp chính thức của Việt Nam có độ trễ nhất định, một số chỉ tiêu chỉ cập nhật được đến năm 2017.
- Về phương pháp: Việc bóc tách định lượng riêng biệt mức độ tác động của CMCN 4.0 ra khỏi tổng thể các tác động kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh hội nhập chưa thực hiện được, do đó tác giả phải dùng giải pháp phân kỳ so sánh giai đoạn trước và sau mốc năm 2014.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phân tích sang các doanh nghiệp sản xuất phụ trợ dệt may và các đơn vị hoạt động chuyên sâu trong khâu thiết kế thời trang, dịch vụ logistics dệt may.
- Cập nhật số liệu thực nghiệm sau giai đoạn 2018 để kiểm chứng mức độ thích ứng thực tế của các doanh nghiệp dệt may đối với các công nghệ số mới phát sinh.
- Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng để ước lượng tác động của mức độ đầu tư công nghệ 4.0 đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của ngành dệt may khi hệ thống dữ liệu cho phép.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các viện nghiên cứu kinh tế có thể khai thác các luận cứ khoa học tại Chương 3 và Chương 4 để xây dựng quy hoạch phát triển vùng công nghiệp dệt may, thiết kế chính sách hỗ trợ cụm liên kết ngành và tiêu chuẩn công nghệ.
- Hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp dệt may: Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) và lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may tư nhân có thể tham khảo các tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng CMCN 4.0, các cảnh báo về rào cản kết nối thiết bị, cũng như mô hình liên kết đào tạo nhân lực trình bày trong luận án.
- Giới nghiên cứu và giảng dạy: Nghiên cứu sinh, giảng viên các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế công nghiệp có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp lý thuyết nguồn lực (RBV) với lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu trong nghiên cứu phát triển ngành.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chỉ ra sự khác biệt kinh tế - kỹ thuật cơ bản nào giữa doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may?
Luận án xác định doanh nghiệp dệt thâm dụng vốn, có tính kinh tế theo quy mô ở cấp doanh nghiệp do công nghệ dệt có đặc trưng không thể chia nhỏ (indivisibilities), chi phí cố định cao buộc phải vận hành ở sản lượng lớn để hạ giá thành. Ngược lại, doanh nghiệp may thâm dụng lao động, tỷ lệ người và máy là 1:1, chi phí tài sản cố định thấp hơn, có thể hoạt động linh hoạt ở mọi quy mô từ may đo nhỏ lẻ đến nhà máy trên 10.000 lao động; hiệu quả ngành may dựa vào tính kinh tế ngoại hiện thông qua việc tập trung địa lý theo cụm ngành.
2. Tỷ trọng giá trị gia tăng được phân bổ như thế nào trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu?
Theo mô hình đường cong nụ cười mà luận án trích dẫn từ Gereffi và Memodovic (2003) cùng các nghiên cứu trong nước, giá trị gia tăng phân bổ không đều: khâu thiết kế chiếm khoảng 3%, khâu cắt may chỉ chiếm từ 5% đến 7%, trong khi các khâu marketing, tiếp thị và phân phối sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất, lên tới 75% toàn chuỗi.
3. Mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ CMCN 4.0 của doanh nghiệp dệt may Việt Nam được văn bản phản ánh như thế nào?
Theo số liệu điều tra của UNDP và Bộ Công thương (2019) nêu trong luận án, mức độ chuẩn bị của doanh nghiệp rất hạn chế: 67% doanh nghiệp dệt và 73% doanh nghiệp may không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT; 62% doanh nghiệp dệt và 50% doanh nghiệp may không thể nâng cấp thiết bị để kết nối hệ thống; 73% doanh nghiệp may không sử dụng bất kỳ mô hình kỹ thuật số nào (chỉ 7% dùng ERP và 1% dùng SCM); 13% doanh nghiệp dệt và 19% doanh nghiệp may không trang bị kiến thức, kỹ thuật 4.0 cho người lao động.
4. Tại sao luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở mã ngành cấp hai là 13 và 14?
Luận án giải thích rằng do hạn chế về nguồn số liệu điều tra qua các năm của Tổng cục Thống kê, các doanh nghiệp dệt may thuộc các nhóm ngành khác (như sản xuất sợi nhân tạo mã 2030 hoặc sản xuất máy móc, thiết bị phụ trợ dệt may) không thể tách bạch và phân định một cách chính xác. Do đó, tác giả giới hạn đối tượng nghiên cứu ở các doanh nghiệp đăng ký mã ngành 13 ("Dệt") và 14 ("Sản xuất trang phục") để đảm bảo tính chuẩn xác và nhất quán của các chuỗi số liệu thống kê.
5. Việc phân chia mốc thời gian so sánh trước và sau năm 2014 nhằm mục đích gì?
Do tác động của CMCN 4.0 đan xen phức tạp trong tổng thể môi trường kinh tế vĩ mô và tiến trình hội nhập, không thể bóc tách định lượng riêng rẽ tác động này. Luận án thực hiện phân tích so sánh các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may trước và sau năm 2014 – thời điểm CMCN 4.0 bắt đầu được thảo luận và nhận diện rộng rãi hơn – nhằm nhận diện rõ sự khác biệt trong phương thức sản xuất, thách thức công nghệ và các vấn đề phát triển nảy sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp dệt may thông qua việc tích hợp lý thuyết nguồn lực, lý thuyết tổ chức ngành và lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu. Dựa trên chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2007–2018 và kết quả khảo sát thực nghiệm, công trình chỉ rõ các thành tựu về quy mô xuất khẩu cùng các nút thắt cơ bản của ngành dệt may Việt Nam như tình trạng mất cân đối giữa dệt và may, phụ thuộc nguyên liệu đầu vào, giá trị gia tăng gia công thấp và mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ 4.0 còn ở mức cơ bản. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất tập trung vào hoàn thiện chính sách, nâng cấp hạ tầng số, đào tạo nhân lực, tài trợ đổi mới công nghệ và phát triển cụm liên kết ngành, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam.