Luận Án Về Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư

Tổng hợp kiến thức Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam Trong Cách Mạng Công Nghiệp 4.0, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY

2.1. Các khái niệm cơ bản về phát triển doanh nghiệp dệt may

2.2. Doanh nghiệp dệt may và phát triển doanh nghiệp dệt may

2.3. Các đặc trưng của doanh nghiệp dệt, may

2.4. Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá sự phát triển doanh nghiệp dệt may

2.5. Cách mạng công nghiệp 4.0 và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động đến ngành dệt may

2.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4

2.7. Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp dệt may và bài học cho Việt Nam

2.7.1. Kinh nghiệm của Ấn Độ

2.7.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

2.7.3. Bài học cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2018

3.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam 2007-2018

3.2. Sự thay đổi về số lượng doanh nghiệp dệt may Việt Nam

3.3. Sự chuyển dịch cơ cấu doanh nghiệp dệt may Việt Nam

3.4. Chất lượng của doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007-2018

3.5. Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may trong chuỗi giá trị toàn cầu

3.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam

3.6.1. Các yếu tố bên trong

3.6.2. Các yếu tố bên ngoài

3.7. Các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam

3.7.1. Có sự gia tăng về số lượng, nhưng chưa có sự gia tăng về quy mô doanh nghiệp

3.7.2. Sự phát triển của doanh nghiệp dệt may bị hạn chế do mất cân đối cơ cấu doanh nghiệp

3.7.3. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phụ thuộc nguyên liệu đầu vào

3.7.4. Quy mô vốn nhỏ và khả năng tiếp cận vốn đầu tư đổi mới công nghệ còn thấp

3.7.5. Chất lượng lao động thấp và sự biến động của lao động lớn

3.7.6. Mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp dệt may trong việc ứng dụng các thành tựu của CMCN 4

3.7.7. Các doanh nghiệp đã tham gia chuỗi, nhưng ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp

3.7.8. Thiếu sự phát triển của các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, dù có sự tập trung doanh nghiệp

3.7.9. Điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP DỆT MAY TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

4.1. Bối cảnh phát triển mới

4.2. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày trở thành một xu thế tất yếu

4.3. Xu hướng phát triển của ngành thời trang thế giới dưới tác động của CN 4

4.4. Cơ hội, thách thức đối với doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0 và hội nhập

4.4.1. Thách thức

4.5. Quan điểm, định hướng phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN lần thứ tư

4.6. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp dệt, may trong bối cảnh CMCN lần thứ tư

4.6.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ, ứng dụng thành tựu của CMCN 4

4.6.2. Phát triển hạ tầng cơ sở đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông; phát triển thương mại điện tử, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng được thành tựu của CMCN 4

4.6.3. Đào tạo nhân lực chất lượng cao

4.6.4. Hỗ trợ doanh nghiệp dệt, may đổi mới công nghệ

4.6.5. Phát triển cụm liên kết ngành, khuyến khích liên kết và hợp tác trong cụm liên kết ngành dệt may

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về doanh nghiệp dệt may trên thế giới đã chỉ ra rằng ngành này đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra những thay đổi lớn trong phương thức sản xuất và quản lý. Các doanh nghiệp dệt may cần phải thích ứng với những thay đổi này để duy trì và phát triển. Việc áp dụng công nghệ dệt mới và tự động hóa trong sản xuất là rất cần thiết. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả có thể giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm chi phí. Những yếu tố này đều có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về doanh nghiệp dệt may đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Các nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp cho sự phát triển của ngành. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu, đặc biệt là về chuyển đổi sốứng dụng công nghệ thông tin trong ngành dệt may. Các doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0. Việc áp dụng các công nghệ mới không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm. Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống thông tin để hỗ trợ quản lý và ra quyết định trong doanh nghiệp.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp dệt may

Các khái niệm cơ bản về phát triển doanh nghiệp dệt may đã được xác định rõ ràng. Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra những thay đổi lớn trong cách thức sản xuất và quản lý. Các doanh nghiệp cần phải áp dụng công nghệ dệt mới và tự động hóa để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc phát triển chuỗi cung ứng hiệu quả cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp dệt may cần được xác định rõ ràng để có thể theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

2.1 Các đặc trưng của doanh nghiệp dệt may

Doanh nghiệp dệt may có những đặc trưng riêng biệt, bao gồm quy trình sản xuất phức tạp và yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm. Năng suất lao động trong ngành dệt may thường thấp hơn so với các ngành khác, do đó việc áp dụng công nghệ tự động hóa là rất cần thiết. Các doanh nghiệp cũng cần phải chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao kỹ năng cho người lao động. Việc phát triển hệ thống thông tin cũng giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn quy trình sản xuất và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

III. Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007 2018

Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2007-2018 cho thấy sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp, nhưng chưa có sự gia tăng tương ứng về quy mô. Các doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào và gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ. Chất lượng lao động trong ngành dệt may còn thấp, và sự biến động của lao động lớn. Mặc dù đã có sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp dệt may

Các yếu tố bên trong và bên ngoài đều ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp dệt may. Các yếu tố bên trong bao gồm năng lực quản lý, chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận công nghệ mới. Các yếu tố bên ngoài như chính sách của chính phủ, tình hình kinh tế và xu hướng tiêu dùng cũng có tác động lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải có chiến lược rõ ràng và linh hoạt trong việc ứng phó với các thay đổi của thị trường.

IV. Giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải có những giải pháp cụ thể để phát triển. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu của CMCN 4.0 là rất cần thiết. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và thương mại điện tử cũng sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới. Đào tạo nhân lực chất lượng cao là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng cần phải phát triển cụm liên kết ngành để tăng cường hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong ngành.

4.1 Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp dệt may

Cơ hội phát triển cho doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0 là rất lớn, nhưng cũng đi kèm với nhiều thách thức. Doanh nghiệp cần phải nhanh chóng thích ứng với những thay đổi trong công nghệ và thị trường. Việc nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần phải đối mặt với những thách thức như sự cạnh tranh gay gắt từ các nước khác và yêu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển doanh nghiệp dệt may Chƣơng 3.Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007- 2018 Chƣơng 4. Giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Phát triển doanh nghiệp luôn được các chính phủ quan tâm, bởi doanh nghiệp là lực lượng tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế.

Việc phát triển doanh nghiệp được tiếp cận từ nhiều cấp độ khác nhau, từ cấp vi mô hay cấp doanh nghiệp, cấp ngành, và cấp vĩ mô. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển doanh nghiệp còn tiếp cận ở cấp toàn cầu, với các doanh nghiệp đa quốc gia chi phối các chuỗi sản xuất đặt địa điểm ở nhiều nền kinh tế khác nhau. Bàn về sự phát triển của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể độc lập Lý thuyết doanh nghiệp nghiên cứu, giải thích về sự ra đời, phát triển hay rút khỏi ngành của doanh nghiệp, và chỉ ra những yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Trên cơ sở lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp, đến nay đã hình thành nhiều dòng lý thuyết khác nhau giải thích cho sự phát triển của doanh nghiệp, bao gồm dòng lý thuyết dựa trên chi phí giao dịch, dòng lý thuyết dựa trên lý thuyết về tài sản đặc thù ., và gần đây nhất, giải thích cho sự phát triển doanh nghiệp là dòng lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-based Theory of the Firm).

Mỗi dòng lý thuyết này sẽ bổ sung cho lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp. Luận án sẽ sử dụng lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực kết hợp với lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp để giải quyết vấn đề. Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực tập trung vào vai trò của các nguồn lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp và hệ quả của phát triển doanh nghiệp – sự hình thành ngành kinh tế. Lý thuyết được phát triển bởi Barney, J., (1991), sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhóm nguồn lực: (a) nguồn lực vật chất (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai); (b) nguồn vốn con người; và (c) nguồn vốn tổ chức.

Giải quyết thách thức duy trì sự tồn tại và gia tăng “lợi nhuận siêu ngạch” để phát triển, doanh nghiệp phải xử lý vấn đề huy động và sử dụng hiệu quả ba nhóm nguồn lực nói trên [64] 8 Trên nền tảng lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực, đã có nhiều nghiên cứu chứng thực đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và nhóm doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu, ngành kinh tế hay phân theo khu vực địa lý nói riêng. (2011), lập luận rằng lợi thế tiếp cận, huy động và sử dụng các nguồn lực để hình thành nguồn lực đặc thù của doanh nghiệp là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy, không phải nguồn lực nào cũng có tính chiến lược – duy trì lợi nhuận siêu ngạch – đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các nhóm nguồn lực trên, vốn vật chất, máy móc thiết bị công nghệ là nguồn lực có tính chiến lược, và việc khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực này là điều kiện để doanh nghiệp phát triển [64], [65], [66].

Trong dài hạn, đổi mới và nâng cấp máy móc thiết bị công nghệ (năng lực công nghệ), nâng cấp nguồn vốn con người (năng lực thực hiện R&D, năng lực quản trị.) là giải pháp hữu hiệu, giúp doanh nghiệp giữ vững nguồn lực chiến lược, duy trì lợi thế cạnh tranh. Sanjaya Lall (2000) chỉ ra sự khác biệt về năng lực duy trì nguồn lực chiến lược, để nắm bắt cơ hội phát triển của doanh nghiệp thuộc hai nhóm (i) các nền kinh tế đang phát triển và (ii) các nền kinh tế phát triển. Ở nền kinh tế đang phát triển, xây dựng nguồn lực chiến lược có thể phản tác dụng khi việc đổi mới máy móc thiết bị (thường là nhập khẩu) có thể dẫn tới tình trạng mất cân bằng giữa các nguồn lực trong doanh nghiệp – tức là năng lực cần thiết của lao động hiện tại để làm chủ trình độ công nghệ mới thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu về trình độ cần có để làm chủ công nghệ mới đó [103]. Nói cách khác, doanh nghiệp chỉ có cải thiện trình độ phát triển khi và chỉ khi cùng lúc nhập khẩu máy móc hiện đại và “nhập khẩu” cả những lao động có đủ trình độ để vận hành các máy móc thiệt bị mới – huy động và sử dụng đồng bộ hai nguồn 9 lực.

Với đa số các doanh nghiệp của các nền kinh tế đang phát triển, tính khả thi của yêu cầu trên là không cao. Một vấn đề phát triển đặt ra là khi công nghệ thay đổi, năng suất lao động sẽ không tăng ngay. Thời kỳ giảm năng suất của doanh nghiệp sẽ kéo dài, khi lao động trong doanh nghiệp mất nhiều thời gian hơn so với mức cần thiết để làm chủ công nghệ, máy móc thiết bị mới. Đường cong chi phí học thông qua hành sẽ kéo dài hơn trước khi đạt được mức thấp nhất.

Không những thế Sanjaya Lall (2000) cho rằng, các doanh nghiệp đó sẽ gặp rủi ro phát triển, là sự lạc hậu trong tiến trình đổi mới công nghệ của thế giới. Nghiên cứu của Sanghoon Ahn (2003) ủng hộ lý thuyết của Barney, J. Cụ thể, các doanh nghiệp chế biến chế tạo Mỹ trong nghiên cứu đã đạt được sự cải thiện về năng suất lao động cũng như năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP) – các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh – trên cơ sở nâng cấp chất lượng nguồn vốn hai nguồn lực là nguồn vật chất và nguồn vốn con người. Cũng như Sanjaya Lall (2000), Sanghoon Ahn (2003) đã chỉ ra, hiệu ứng phụ của chiến lược tìm kiếm nguồn lực chiến lược là hiện tượng giảm năng suất của doanh nghiệp trong ngắn hạn - thời kỳ đầu của quá trình nâng cấp chất lượng nguồn vốn vật chất.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chất lượng nguồn vốn con người (hiện tại) trong doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến tần suất nâng cấp chất lượng nguồn vốn vật chất. Các doanh nghiệp duy trì, phát triển được đội ngũ lao động có kỹ năng là những doanh nghiệp có xu hướng thường xuyên nâng cấp nguồn vốn vật chất hơn so với các doanh nghiệp khác. Đối với các công ty đại chúng, thường xuyên nâng cấp nguồn lực chiến lược khiến lợi nhuận có xu hướng giảm trong ngắn hạn (năng suất lao động giảm). Nhưng đổi lại, giá trị của doanh nghiệp có xu hướng được các nhà đầu tư định giá cao hơn.

Gnesha Wiganaraja (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp dệt may Mauritius trong những năm đầu thập kỷ 80. Bằng các phương pháp đo lường năng lực công nghệ của doanh nghiệp, Gnesha Wiganaraja (2001) đã nghiên cứu quá trình thay đổi/đổi mới nguồn vốn vật chất và mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, phản ánh qua các chỉ tiêu như kết quả kinh doanh, kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp [73]. 10 Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng góp phần thay đổi chất lượng nguồn vốn vật chất của doanh nghiệp trong nước, mặc dù tính chất của tác động (tiêu cực hay tích cực) và cường độ tác động còn nhiều tranh cãi giữa các nghiên cứu., (2011) cho tác động tích cực của FDI đối với sự cải thiện vốn vật chất của các doanh nghiệp trong nước tiếp nhận đầu tư, với điều kiện là bản thân năng lực của doanh nghiệp trong nước đã ở một trình độ nhất định, phù hợp để tiếp nhận các công nghệ đó. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả gợi ý việc khuyến khích doanh nghiệp tự đầu tư cũng như khuyến khích chính phủ tạo ra các cơ hội để doanh nghiệp đầu tư nâng cấp năng lực đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển là cần thiết [72].

Gnesha Wiganaraja (2001) cho thấy, các nguồn lực thứ hai và thứ ba trong Barney, J., (1991) như chất lượng của lao động có kỹ năng, chi phí đào tạo lao động, quy mô doanh nghiệp, và sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài là những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến kết quả nâng cấp nguồn lực thứ nhất (nâng cấp nguồn vốn vật chất) của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng, đầu tư vào vốn con người và tìm kiếm thông tin (được thuận lợi hơn khi doanh nghiệp có quy mô lớn hơn), sẽ cải thiện năng lực công nghệ [102]. Nghiên cứu cũng phát hiện thấy chất lượng nguồn vốn vật chất của doanh nghiệp (đo lường thông qua chỉ số công nghệ) và quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành dệt may có mối quan hệ tương quan với kết quả xuất khẩu và các quan hệ đó có ý nghĩa thống kê cao. Nghiên cứu cho thấy ý nghĩa việc thiết lập chỉ số công nghệ trong việc phân tích, đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp (qua các chỉ tiêu doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận xuất khẩu) trong mối quan hệ với sự cải thiện chất lượng nguồn vốn vật chất.

Glaister, Gaye Karacay, Mehmet Demirbag, và Ekrem Tatoglu (2018) đã phân tích vai trò của nhân lực quản trị dựa trên việc quan sát 198 doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, những nhà quản trị giỏi, thông qua thực tiễn phát triển các mạng nhân lực và vốn xã hội, là kênh truyền tải tác động quan trọng từ quản trị nguồn nhân lực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, vai trò truyền tải của các chiến lược quản trị nguồn nhân lực hay chiến lược kinh doanh cũng có tác động, nhưng không phải là các kênh tác động quan trọng đối với mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [62]. 11 Vishal Gupta, Sandra C.

Mortal, và Tina Yang, (2018) đánh giá vai trò nhà quản trị đối với sự phát triển của các doanh nghiệp đại chúng (giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán), dựa trên số liệu về doanh nghiệp của 05 quốc gia phát triển (xếp hạng của Fobes 2000). Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán có mối quan hệ với vai trò định hướng của nhà doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận Án Về Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư" tập trung vào việc phân tích và đánh giá tình hình của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0. Tác giả đã chỉ ra những thách thức và cơ hội mà ngành này phải đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự chuyển mình của ngành dệt may mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất và quản lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam, nơi phân tích vai trò của văn hóa trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ bán lẻ hàng may mặc của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về năng lực cung ứng trong ngành may mặc. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam cũng mang đến cái nhìn tổng quan về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ, có liên quan mật thiết đến ngành dệt may. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành dệt may và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nó trong thời đại công nghệ số.