Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9310105) của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Thọ, được thực hiện tại Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Tất Thắng và TS Nguyễn Trọng Thừa, mang tiêu đề: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế".

Về tính cấp thiết, dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực có mức tăng trưởng liên tục và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Đến năm 2017, giá trị xuất khẩu dệt may đạt 31 tỷ USD, đóng góp trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, sản phẩm đã hiện diện tại hơn 180 quốc gia và giữ thị phần thứ hai tại các thị trường lớn như Mỹ và Nhật Bản. Ngành thu hút gần 2,5 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động trong khu vực sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế quốc tế đang xuất hiện những thay đổi sâu sắc: cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với tự động hóa, robot và internet kết nối vạn vật đe dọa triệt tiêu lợi thế lao động giá thấp, tạo nguy cơ dịch chuyển sản xuất ngược về các quốc gia phát triển; sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia có chi phí nhân công rẻ như Bangladesh, Campuchia; cùng các cam kết tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành hoặc doanh nghiệp tổng thể, chưa đi sâu vào từng chủng loại sản phẩm dệt may gắn với chuỗi giá trị; đồng thời thiếu vắng các công trình đánh giá trực tiếp tác động của các thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0 và bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và căng thẳng thương mại quốc tế đối với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh nói chung và đối với sản phẩm dệt may nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của tình hình.
  3. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm dệt may, tham gia sâu vào chuỗi giá trị may mặc thế giới.

Luận án giải quyết 6 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Cơ sở lý thuyết nào để đánh giá năng lực cạnh tranh đối các sản phẩm dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế?
  2. Những bài học kinh nghiệm gì của quốc tế cho Việt Nam để nâng cao năng lực sản xuất của các sản phẩm dệt may trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế?
  3. Năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may Việt Nam trong nước và thế giới hiện nay đang ở mức nào? Các tiêu chí liên quan nào đánh giá/nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may Việt Nam?
  4. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và Việt Nam trong những năm sắp tới như thế nào?
  5. Những xu hướng, triển vọng về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới ra sao?
  6. Những hệ thống giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm dệt may Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may dưới tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may thông qua các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường nội địa và các thị trường xuất khẩu trọng điểm (Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc...).
  • Phạm vi thời gian: Sử dụng dữ liệu thực tế giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 và xây dựng định hướng, mục tiêu đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được chia tách rõ ràng thành hai nhóm công trình quốc tế và trong nước:

Về các nghiên cứu quốc tế:

  • Appelbaum và Gereffi (2003) phân tích chuỗi giá trị hàng may mặc toàn cầu qua 5 khâu: mua nguyên liệu (sợi tự nhiên, sợi nhân tạo); cung cấp vật tư (vải, chỉ); mạng lưới sản xuất tại các nhà máy; các kênh xuất khẩu; và mạng lưới tiếp thị, bán lẻ.
  • Michael Porter (1979, 1990) đề xuất mô hình Kim cương gồm 4 nhóm yếu tố: điều kiện yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan; chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành, cùng vai trò tác động của chính phủ; đồng thời xác định hai nguồn lợi thế cạnh tranh căn bản là chi phí thấp và khác biệt hóa.
  • UNIDO tiếp cận năng lực cạnh tranh ngành dựa trên chuỗi giá trị do người mua (buyer-driven chains) chi phối, chịu tác động từ môi trường kinh doanh, hiệu quả thị trường đầu vào và vai trò của các tổ chức hỗ trợ trung gian.
  • Michael A. Hitt, R. Duane Ireland và Robert E. Hoskisson (2007) phân tích quản trị chiến lược dựa trên năng lực cốt lõi để tạo ra lợi thế cạnh tranh.
  • Eckhard Siggel và John Cockburn (1997) đo lường lợi thế cạnh tranh giá thông qua so sánh tương quan giá xuất khẩu và nhập khẩu.
  • Barney phân tích lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua việc tạo ra giá trị khó bị đối thủ sao chép.
  • David Arnold, Philip Kotler và các cộng sự (2006), Wang và Chen (2004) nghiên cứu về quản trị thương hiệu, xuất xứ hàng hóa (Country of Origin) và vai trò của nhận thức tiêu dùng nội địa đối với hành vi mua sắm.
  • Celia Mather (2004) nghiên cứu chuỗi cung ứng của tập đoàn bán lẻ GAP tại các nước đang phát triển.
  • Khalid Nadvi và John Thoburn (2003) khảo cứu vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và tác động tới doanh nghiệp cùng người lao động.
  • Zhiming Zhang, Chester và Ning Cao (2004) đánh giá thành công của cụm công nghiệp dệt may Wujiang tại Giang Tô (Trung Quốc) qua 5 nhóm yếu tố cấu thành.

Về các nghiên cứu trong nước:

  • Nhóm tác giả công trình "Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" (NXB Công an nhân dân, 2001) nghiên cứu khung pháp lý và thực tiễn cạnh tranh trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
  • Bùi Tất Thắng (1997, 2000) luận giải khung khổ lý thuyết về lợi thế kinh tế so sánh và đánh giá tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ giao thời.
  • Phạm Thị Thu Phương (2000), Dương Đình Giám (2001) làm rõ giải pháp chiến lược phát triển ngành may và các sản phẩm thượng nguồn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Đỗ Thị Đông (2003, 2010) khảo cứu chính sách công nghiệp, thương mại và mô hình tổ chức cụm liên kết công nghiệp (CLKCN) dệt may để giảm thiểu chi phí logistics.
  • Nguyễn Anh Tuấn (2006) xây dựng bộ tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam tại thị trường EU.
  • Phạm Thu Hương và cộng sự (2006), Nguyễn Thị Loan (2008), nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng (2010) tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích sự chuyển dịch từ gia công xuất khẩu (CMT) sang xuất khẩu trực tiếp (FOB).
  • Nguyễn Trần Quế (2006) nêu 4 tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh sản phẩm (chất lượng/đa dạng hóa, giá cả, thâm nhập thị trường mới, xúc tiến bán hàng).
  • Vũ Quốc Dũng (2007) phân tích thực trạng ngành dệt may sau khi gia nhập WTO và đề xuất quy hoạch nguồn nguyên phụ liệu bông, xơ tập trung.
  • Hoàng Thị Liên, Nguyễn Bách Khoa nghiên cứu phát triển thương hiệu hàng may mặc và quản trị nhãn hiệu như tài sản trí tuệ.
  • Nguyễn Hồng Chỉnh (2017) khảo cứu năng lực cạnh tranh ngành trong khuôn khổ hiệp định CPTPP.
  • Đặng Thị Kim Thoa (2012, 2013) nghiên cứu thị trường dệt may nội địa dưới giác độ phân phối và marketing.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các lý thuyết về chuỗi giá trị và mô hình kim cương, nhưng tập trung giải quyết khoảng trống về năng lực cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm dệt may cụ thể (sợi, vải, sản phẩm may mặc); đưa vào phân tích các yếu tố đương đại gồm Cách mạng công nghiệp 4.0 và các cam kết thể chế từ các FTA thế hệ mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các lý thuyết kinh tế học phát triển và quản trị chiến lược:

  • Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh: Tiếp cận đa tầng từ cấp quốc gia (theo tiêu chí của Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF: vai trò chính phủ, độ mở kinh tế, chính sách tài khóa, hạ tầng, khoa học công nghệ, thị trường lao động), cấp ngành (theo Michael Porter) đến cấp sản phẩm (theo Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro: sản phẩm cạnh tranh hội tụ yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ).
  • Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may được tác giả xác lập: "Là mức độ các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất và thương mại các sản phẩm dệt may trên thị trường công bằng, tự do mở, mà ở đó nó sẽ phát sinh những yếu tố làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và giá trị của sản phẩm đó".
  • Khung phân tích chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Gereffi (chia tách 5 khâu cung ứng) và mô hình đường cong nụ cười của Stan Shih (giá trị gia tăng tập trung ở hai đầu chuỗi: R&D, thiết kế thương hiệu và marketing, phân phối bán lẻ; khâu gia công sản xuất ở đáy đường cong có giá trị thấp nhất).
  • Mô hình Kim cương của Michael Porter và khung phân tích năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp do UNIDO ban hành.
  • Bộ tiêu chí nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may do tác giả đề xuất gồm 6 tiêu chí cốt lõi:
    1. Thị phần sản phẩm dệt may;
    2. Chất lượng nguồn nhân lực dệt may;
    3. Công nghệ thiết bị dệt may;
    4. Thương hiệu sản phẩm dệt may;
    5. Chi phí lao động dệt may;
    6. Thời gian sản xuất sản phẩm dệt may; kèm theo yếu tố tác động xuyên suốt là chính sách của Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng hệ thống lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu và mô hình kim cương để phân tích, mổ xẻ vị thế của sản phẩm dệt may Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các chỉ tiêu kinh tế, năng suất, chi phí sản xuất, chi phí lao động và thời gian giao hàng giữa Việt Nam với các quốc gia cạnh tranh như Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, tổng hợp chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2017 nhằm đánh giá tăng trưởng, cơ cấu xuất nhập khẩu và biến động thị trường.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và phân tích SWOT: Xác định Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Thách thức (Threats) làm căn cứ hoạch định giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo thường niên của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX), số liệu từ Bộ Công Thương, cùng báo cáo của các tổ chức quốc tế như UNIDO, World Bank, WEF, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Tác giả kết hợp tham vấn chuyên gia quản lý doanh nghiệp và đại diện các cơ quan quản lý nhà nước về dệt may.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến năng lực cạnh tranh ngành và sản phẩm dệt may. Chương làm rõ sự vận động của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu từ khâu cung ứng nguyên phụ liệu, sản xuất dệt nhuộm, may mặc đến phân phối, thương mại; tổng thuật các lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter, UNIDO, Gereffi và Stan Shih. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chưa giải quyết thấu đáo bối cảnh mới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 thâm nhập sâu vào các công đoạn sản xuất, cũng như thiếu vắng các đánh giá về sự biến đổi chuỗi cung ứng trước tác động của các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và tranh chấp thương mại Mỹ - Trung.

CHƯƠNG 2: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may

Chương 2 làm rõ các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ở các cấp độ quốc gia, ngành và sản phẩm; phân tích các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế (PTA, FTA, liên minh thuế quan). Tác giả phân tích các đặc điểm của ngành dệt may: ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, vốn ban đầu thấp, quy luật dịch chuyển từ nước phát triển sang nước đang phát triển và hiện đang có xu hướng chuyển dịch vào khối ASEAN.

Về đặc tính kỹ thuật, sản phẩm dệt may bao gồm sợi (tự nhiên từ bông, đay, gai; nhân tạo từ dầu mỏ, khí đốt qua tổng hợp PTA, MEG), vải (vải dệt thoi và vải dệt kim) và hàng may mặc (thời trang cao cấp và may mặc công nghiệp). Các sản phẩm dệt may có tính chu kỳ mùa vụ, chịu tác động lớn của xu hướng thời trang, đòi hỏi uy tín nhãn hiệu và chịu sự bảo hộ khắt khe qua các rào cản kỹ thuật.

Tác giả phân tích các nhân tố bên ngoài (biến động tỷ giá USD, nhân dân tệ, rupi năm 2015; dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc do chi phí tăng; các FTA thế hệ mới) và nhân tố trong nước (định hướng chuyển dịch cơ cấu theo Nghị quyết 24/2016/QH14, chi phí điện, nước, tiền lương, BHXH tăng nhanh). Chương 2 thiết lập bộ 6 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may và tổng kết kinh nghiệm quốc tế, rút ra bài học cho Việt Nam.

CHƯƠNG 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam giai đoạn 2010–2017 thông qua 6 tiêu chí đã xác lập:

Nhóm chỉ tiêu thực trạng Dữ liệu và phát hiện chính trong luận án
Quy mô và đóng góp kinh tế Năm 2017, xuất khẩu đạt 31 tỷ USD, chiếm >16% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; thu hút gần 2,5 triệu lao động (30% lao động sản xuất công nghiệp).
Thị phần xuất khẩu Đứng thứ 2 tại thị trường Mỹ và Nhật Bản; giữ thị phần xuất khẩu dệt may lớn trong top 5 toàn cầu giai đoạn 2001–2017.
Cân đối cung cầu vải (2016) Năng lực sản xuất vải trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; ngành may phụ thuộc nặng nề vào vải nhập khẩu (năm 2016 nhập khẩu lượng lớn vải cho chế biến xuất khẩu).
Cơ cấu sản phẩm sợi (2016) Sợi cotton xuất khẩu mạnh sang Trung Quốc; chi phí sản xuất sợi Việt Nam chịu sự cạnh tranh về giá điện và chi phí vận chuyển so với sợi bán nội địa.
Chất lượng lao động và năng suất Tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 2010–2017 thấp hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu; tuyển sinh đào tạo đại học, cao đẳng dệt may có xu hướng giảm sút.
Công nghệ và thiết bị (2015) Cơ cấu nhập khẩu thiết bị ngành sợi, dệt nhuộm và may năm 2015 cho thấy phần lớn thiết bị may ở mức trung bình, thiếu hụt dây chuyền tự động hóa cao.
Thời gian sản xuất và chi phí Thời gian hoàn thành đơn hàng trung bình của Việt Nam dài hơn so với một số đối thủ cạnh tranh tại châu Á; lương tối thiểu tăng nhanh hơn Bangladesh và Campuchia.

Đánh giá SWOT của luận án:

  • Điểm mạnh: Lực lượng lao động khéo léo, thị phần xuất khẩu đứng thứ 2 tại các thị trường lớn, uy tín giao hàng ổn định.
  • Hạn chế: Nút thắt cổ chai ở khâu dệt nhuộm hoàn tất; phương thức sản xuất chủ yếu là gia công CMT (chiếm tỷ trọng áp đảo) và FOB bậc thấp, tỷ lệ ODM và OBM rất thấp; thiếu chủ động nguyên phụ liệu (vải, xơ sợi tổng hợp); năng suất lao động tính trên đầu người chưa cao; xây dựng thương hiệu riêng trên thị trường quốc tế gần như chưa có; toàn quốc chỉ có 01 khu công nghiệp dệt may tập trung Phố Nối (120 ha tại Hưng Yên).
  • Nguyên nhân của hạn chế: Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển; vốn đầu tư cho khâu dệt nhuộm xử lý nước thải quá lớn; liên kết dọc giữa các doanh nghiệp sợi - dệt - may - phụ liệu lỏng lẻo; chính sách hỗ trợ của nhà nước chưa đồng bộ.

CHƯƠNG 4: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 4 phân tích bối cảnh mới, dự báo thị trường đến năm 2030 và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh:

Bảng dự báo mục tiêu sản phẩm dệt may Việt Nam giai đoạn 2020–2030 được luận án tổng hợp:

Chỉ tiêu / Giai đoạn Giai đoạn 2020 Giai đoạn 2025 Giai đoạn 2030
Kim ngạch xuất khẩu ngành Tăng trưởng ổn định theo lộ trình hội nhập Mở rộng thị phần FTA thế hệ mới Đạt mức tăng trưởng giá trị gia tăng cao
Tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm Nâng cao tỷ trọng vải, sợi nội địa Giảm phụ thuộc vải nhập khẩu Hoàn chỉnh chuỗi cung ứng trong nước
Chuyển dịch phương thức Giảm tỷ trọng gia công CMT Tăng nhanh tỷ trọng FOB và ODM Phát triển sản phẩm OBM mang thương hiệu riêng

Các nhóm giải pháp chủ yếu được luận án xây dựng:

  1. Nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh: Ứng dụng kỹ thuật quản lý sản xuất tinh gọn (Lean), cải tiến quy trình công nghệ nhằm cắt giảm hao phí thời gian và vật tư.
  2. Đẩy mạnh khai thác thị trường dệt may nội địa: Tận dụng dung lượng thị trường hơn 90 triệu dân với sức mua đang gia tăng, củng cố hệ thống bán lẻ và chuỗi phân phối sản phẩm may sẵn.
  3. Tăng cường xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: Khai thác các ưu đãi thuế quan từ CPTPP, EVFTA; tránh phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
  4. Đào tạo nhân lực dệt may chất lượng cao: Tập trung đào tạo kỹ sư công nghệ dệt nhuộm, chuyên gia thiết kế thời trang và nhân lực vận hành hệ thống tự động hóa.
  5. Phát triển công nghiệp phụ trợ dệt may bền vững: Quy hoạch các khu công nghiệp dệt may tập trung có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường; phát triển chuỗi cung ứng bông tưới nhỏ giọt, sợi tự động.
  6. Sản xuất thông minh với công nghệ số 4.0: Tích hợp IoT vào dây chuyền dệt may, ứng dụng máy dệt 3D (Kniterate), hệ thống sản xuất liên kết CAM trong may mặc.
  7. Nâng tầm thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam: Quản trị nhãn hiệu như tài sản sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm may mặc.
  8. Hoàn thiện chính sách quản lý và điều hành của Nhà nước: Cải cách thủ tục hải quan, hỗ trợ tín dụng đầu tư công nghệ sạch và hoàn thiện hành lang pháp lý lao động, môi trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm trong ngành công nghiệp dệt may, đặt trong mối quan hệ đa tầng giữa năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
  • Xây dựng hệ thống 6 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may (thị phần, nhân lực, công nghệ, thương hiệu, chi phí lao động, thời gian sản xuất) gắn với vai trò điều tiết của chính sách nhà nước.
  • Bổ sung luận cứ khoa học về tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuỗi giá trị toàn cầu dạng đường cong nụ cười đến chiến lược nâng cấp sản phẩm dệt may của các nước đang phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về cơ cấu cung cầu xơ sợi, vải dệt và hàng may mặc Việt Nam giai đoạn 2010–2017; chỉ rõ điểm nghẽn nguồn cung vải nội địa và sự phụ thuộc vào phương thức gia công CMT.
  • Nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức (SWOT) của sản phẩm dệt may Việt Nam trước làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
  • Đề xuất định hướng giải pháp hạt nhân có tính hành động: "Phát triển sản phẩm dệt may theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại (công nghiệp lần thứ tư), thân thiện môi trường, đảm bảo hiệu quả và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế".
  • Đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách cụ thể cho Nhà nước, Hiệp hội Dệt may (VITAS) và Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) về quy hoạch khu công nghiệp phụ trợ tập trung, xử lý rào cản kỹ thuật xuất xứ và đầu tư công nghệ số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Nguồn số liệu nghiên cứu cơ bản dựa trên các báo cáo thứ cấp từ các cơ quan quản lý và hiệp hội ngành hàng (giai đoạn 2010–2017), chưa tiến hành các cuộc điều tra khảo sát xã hội học quy mô lớn trên mẫu doanh nghiệp rộng bằng bảng hỏi cấu trúc.
  • Luận án sử dụng các phương pháp phân tích định tính, so sánh đối chiếu và thống kê mô tả, chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng định lượng (như hồi quy đa biến hoặc mô hình phương trình cấu trúc SEM) để lượng hóa mức độ đóng góp và kiểm định trọng số của từng tiêu chí tác động đến năng lực cạnh tranh sản phẩm.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng dệt may truyền thống (sợi cotton, vải dệt thoi/dệt kim, quần áo may mặc phổ thông), chưa đi sâu phân tích các sản phẩm dệt kỹ thuật (technical textiles) và vật liệu chuyên dụng công nghệ cao.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường định lượng tác động của mức độ tự động hóa và số hóa 4.0 đến giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may.
  • Mở rộng phân tích sang các thị trường ngách, thị trường phi truyền thống và nghiên cứu chuyên sâu về sản phẩm dệt may sinh thái, dệt kỹ thuật số đáp ứng tiêu chuẩn kinh tế tuần hoàn và chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về năng lực cạnh tranh sản phẩm, phương pháp luận tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu của Gereffi và đường cong nụ cười của Stan Shih ứng dụng vào một ngành công nghiệp cụ thể.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp dệt may: Là tài liệu tham khảo thực tế về các chỉ tiêu so sánh chi phí, năng suất, thời gian sản xuất và định hướng chuyển dịch mô hình sản xuất từ CMT sang FOB, ODM, OBM, cùng lộ trình ứng dụng công nghệ số (IoT, CAM, dệt 3D).
  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, VITAS, VINATEX): Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may, quy hoạch khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung và điều chỉnh chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thích ứng với các FTA thế hệ mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bộ tiêu chí nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may gồm những tiêu chí nào? Tác giả xác định 6 tiêu chí cơ bản: (1) Thị phần sản phẩm dệt may; (2) Chất lượng nguồn nhân lực dệt may; (3) Công nghệ thiết bị dệt may; (4) Thương hiệu sản phẩm dệt may; (5) Chi phí lao động dệt may; (6) Thời gian sản xuất sản phẩm dệt may. Cùng với đó, chính sách của Nhà nước được xác định là yếu tố tác động xuyên suốt lên toàn bộ các tiêu chí trên.

2. Vị thế xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam được văn bản ghi nhận đến năm 2017 như thế nào? Tính đến năm 2017, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 31 tỷ USD, chiếm trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, có mặt tại hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản phẩm dệt may Việt Nam đứng thứ 2 về thị phần tại hai thị trường lớn là Mỹ và Nhật Bản, sử dụng gần 2,5 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lao động sản xuất công nghiệp.

3. Khâu nào trong chuỗi giá trị dệt may Việt Nam bị luận án chỉ ra là điểm nghẽn lớn nhất? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu dệt và nhuộm hoàn tất (sản xuất vải). Năng lực cung ứng vải trong nước năm 2016 còn thấp, khiến ngành may mặc phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vải nhập khẩu. Điều này làm giảm giá trị gia tăng nội địa và gây khó khăn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" hoặc "từ vải trở đi" của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP.

4. Vì sao cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được luận án xác định là thách thức lớn đối với dệt may Việt Nam? Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy ứng dụng tự động hóa, robot và internet vạn vật vào sản xuất, làm giảm mạnh nhu cầu sử dụng lao động giản đơn. Điều này triệt tiêu lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên nhân công giá rẻ của Việt Nam và tạo ra nguy cơ các đơn hàng dệt may dịch chuyển ngược trở lại các quốc gia phát triển có nền tảng công nghệ cao.

5. Định hướng giải pháp hạt nhân được luận án đề xuất là gì? Định hướng hạt nhân được tác giả xác định là: "Phát triển sản phẩm dệt may theo hướng tiếp cận công nghệ hiện đại (công nghiệp lần thứ tư), thân thiện môi trường, đảm bảo hiệu quả và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", tập trung nâng cấp chuỗi cung ứng từ gia công sang thiết kế, hoàn thiện công nghiệp phụ trợ và số hóa quy trình sản xuất.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Thọ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm dệt may thông qua tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu và mô hình kim cương của Michael Porter. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu thực tế giai đoạn 2010–2017, tác giả đã làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam với những điểm mạnh về thị phần xuất khẩu song hành cùng điểm nghẽn nguyên phụ liệu vải và phương thức gia công giá trị thấp. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ và định hướng phát triển dựa trên công nghệ số 4.0 và phát triển bền vững đến năm 2030, cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho công tác nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển kinh tế công nghiệp tại Việt Nam.